RSS

Author Archives: Minh Thi

The Social Network (2010) – 500 triệu ‘người bạn’ và vài kẻ thù

Thể loại: Tiểu sử / Tâm lý
Đạo diễn: David Fincher
Diễn viên chính: Jesse Eisenberg, Andrew Garfield, Justin Timberlake

Tháng 10/2010, The Social Network, bộ phim về tỉ phú Facebook Mark Zuckerberg đã làm khuynh đảo các phòng vé Bắc Mỹ khi dẫn đầu bảng xếp hạng phim ăn khách trong vòng 2 tuần lễ liên tiếp. Đây là một thành tích đáng ngạc nhiên đối với một phim tiểu sử, vốn không thuộc dòng phim hốt bạc. Cùng với sự đón nhận tích cực từ khán giả, The Social Network còn được đông đảo giới phê bình thừa nhận là một trong những tác phẩm điện ảnh toàn vẹn nhất năm 2010. Bí quyết nào khiến cho một bộ phim thuộc thể loại kén người xem, đồng thời bị chỉ trích không ít vì sự thiếu chân thực, lại gặt hái được quá nhiều thành công đến thế? 

Cuốn hút ngay từ phút đầu tiên

Không mất công mào đầu bằng việc giới thiệu bối cảnh hay dẫn chuyện từ tốn, The Social Network mở đầu ngay lập tức bằng cuộc đối thoại dồn dập giữa Mark Zuckerberg, chủ nhân tương lai của Facebook, và cô bạn gái xinh xắn. Chỉ trong vòng 5 phút, từ một cuộc trò chuyện thân mật, cặp đôi này đã chuyển sang công kích lẫn nhau, và kết quả là giọt nước tràn ly, cô bạn gái nổi giận quyết định ‘đá’ luôn anh bạn trai phiền phức.

Đó là cách The Social Network giới thiệu nhân vật chính của bộ phim: Mark Zuckerberg, một thiên tài vi tính thông minh tuyệt đỉnh, nhưng vô cùng ngạo mạn, thích dạy đời, thiếu chín chắn và kém cỏi trong giao tiếp. Ngay từ những phút đầu tiên, bộ phim đã thành công trong việc thu hút hoàn toàn sự chú tâm của khán giả vào nhân vật chính, để rồi cứ thể làm họ cuốn theo một câu chuyện tưởng như chẳng mấy hấp dẫn, thậm chí mang hơi hướm phim tài liệu: câu chuyện về sự hình thành và phát triển của Facebook, trang web xã hội phổ biến nhất thế giới, cùng những người khởi tạo ra nó.

Read the rest of this entry »

 
4 Comments

Posted by on 01/06/2011 in Reviews

 

Tags: , , , , ,

Bài học đầu đời

Ai cũng từng trải qua một thời nông nổi. Đó có thể là lúc mới yêu, lần đầu biết rung động trước một nụ cười, một ánh mắt. Hoặc có thể là thời điểm ta phải đứng trước một quyết định quan trọng trong cuộc đời nhưng lại lầm đường lạc lối, để rồi sau đó phải hối hận. Ai chẳng có một thời điểm nào đó trong cuộc đời cảm thấy bối rối và mù mờ trước tương lai, băn khoăn tự hỏi lựa chọn của mình có phải là đúng đắn?

An Education là bộ phim kể về thời kì đó – thời học trò hồn nhiên, tươi vui nhưng cũng đầy nổi loạn của một nữ sinh trung học. Và bài học đầu đời mà vì nó, cô phải trả giá nhưng sẽ chẳng bao giờ quên.

Giản dị như cơn mưa đầu mùa

An Education là một bộ phim giản dị, với mục đích giáo dục bảo thủ, thậm chí lộ liễu, nhưng kỳ thực lại đi sâu vào lòng người chính vì nội dung gần gụi muôn thuở của nó. Tựa như cơn mưa đầu mùa, bất chợt đổ xuống thật chóng vánh, để rồi kết thúc cũng thật nhanh, nhưng chuyện phim đã đánh thức trong ta bao cảm xúc tưởng chừng đã đi vào quên lãng…

Mọi chuyện bắt đầu từ một cơn mưa lớn. Cô bé Jenny (Carey Mulligan) đang trên đường về nhà từ lớp học nhạc thì bị mắc mưa và không tìm được chỗ trú. Theo đúng kịch bản “anh hùng cứu mỹ nhân”, một người đàn ông lịch thiệp tên David (Peter Sargaad) đề nghị đưa cô gái về nhà. Như hai mẩu nam châm trái dấu, họ bị hút về phía nhau, bắt đầu hẹn hò rồi trở thành một cặp. Chẳng có gì khó hiểu. Jenny trẻ đẹp, học giỏi, thông minh nhưng không được cha mẹ dạy bảo đúng cách, không được hưởng một đời sống dư dả và thiếu kinh nghiệm thực tế. David là một người đàn ông trải đời và có tiền. Anh biết rõ Jenny muốn gì nên ra sức chiều chuộng để chiếm được tình cảm của cô gái trẻ.

David mang đến cho Jenny những trải nghiệm mà trước đây, cô chưa từng biết đến. Cô say mê âm nhạc, nhưng chỉ được nghe từ đĩa hát chứ chưa từng đi xem hòa nhạc. Cô thích ăn diện, như mọi cô gái đẹp, nhưng không có đủ tiền cho những bộ cánh đắt tiền. Cô nói sõi tiếng Pháp, nhưng chưa một lần được đặt chân lên đất Pháp. David cho Jenny những thứ đó: những bữa ăn thịnh soạn trong các nhà hàng sang trọng, những bộ y phục đắt tiền, những buổi hòa nhạc, chiếu phim,…và thậm chí, một chuyến du lịch đến Paris hoa lệ. Nói cách khác, Jenny biết nhiều điều, nhưng chỉ qua sách vở. Cô chỉ có lý thuyết chứ chưa có cơ hội thực hành. Và David đến, biến tất cả những gì Jenny thầm mong ước thành hiện thực. Anh khuấy động cuộc sống của Jenny, tô điểm những màu sắc mới, cho cô biết thế nào là vui chơi, hưởng thụ như một người sành điệu. Mọi cô gái trẻ đẹp và thiếu kinh nghiệm sống đều có thể bị cuốn hút bởi một người đàn ông như thế. Ngay cả khi tận mắt chứng kiến David làm ăn không chính đáng, Jenny cũng dễ dàng bỏ qua, vì sức hút của cuộc sống phù hoa đã quá hấp dẫn với cô gái trẻ.

Chạm đến trái tim

An Education không phải là một bộ phim có kết cấu phức tạp hay tình tiết khó đoán. Thế nhưng bộ phim vẫn chiếm được cảm tình của đông đảo khán giả nhờ nội dung giản dị nhưng chạm đến nhiều vấn đề gần gũi. An Education đưa ra những câu hỏi mà ai trong chúng ta cũng đã từng, hoặc đang phải tìm kiếm câu trả lời: thực hiện nghĩa vụ của mình hay sống đời vô lo, chọn đường tắt dù không an toàn hay đi đường dài nhưng đảm bảo? Hay câu hỏi thậm chí đơn giản hơn nữa như đi học hay lấy chồng? Trên tất cả, bộ phim gợi nhớ về một thời nông nổi ai cũng đã một lần trải qua. Cái thời ta không biết mình thực sự muốn gì, ngoài vui chơi, hưởng thụ, hay đơn giản là đi ngược lại những luật lệ và vi phạm điều cấm kỵ, chỉ bởi những điều không nên làm dường như luôn hấp dẫn hơn những điều nên làm.

Cái hay của An Education nằm ở chỗ, bộ phim đề cập đến một đề tài muôn thuở, với một dụng ý khá bảo thủ, nhưng lại biết cách chuyển tải dụng ý đó một cách khéo léo và duyên dáng. Nói cách khác, An Education là một tác phẩm đầy phong cách. Nhìn bề ngoài, đây là một phim giản dị, tưởng như không quá khó để thực hiện, nhưng nếu để ý kỹ, ta sẽ thấy từng chi tiết trong phim được dàn dựng rất khéo léo và thuyết phục. Điển hình nhất là phân cảnh nhân vật David “dụ” Jenny lên xe mình lúc cô bị ướt sũng dưới trời mưa. Thuyết phục một cô gái trẻ lên xe của một người lạ không phải là điều dễ dàng, nhưng David đã làm được một cách khéo léo nhờ sự nhạy cảm và khiếu hài hước của mình. Cách David tiếp cận Jenny, sau đó thu phục tình cảm và lòng tin của cả Jenny lẫn gia đình cô luôn thuyết phục. Kịch bản của An Education tưởng đơn giản nhưng thực ra khá chặt chẽ, với những mẩu đối thoại hài hước, thông minh. Có được điều đó là nhờ tài viết kịch bản khéo léo của Nick Hornby, nhà văn Anh nổi tiếng với sở trường viết truyện hài gây tiếng vang với các tiểu thuyết About A Boy, High Fidelity từng được chuyển thể thành phim. Đáng chú ý hơn, những trải nghiệm của nhân vật Jenny trong An Education được dựa trên câu chuyện có thật do một nhà báo từng trải kể lại.

Những cảnh quay trong An Education cũng thể hiện sự tính toán có chủ đích và hiệu quả. Sự tương phản giữa khung cảnh giản dị quen thuộc, khô khan của trường học với những bộ bàn ghế, những nữ sinh mặc đồng phục giống nhau, và khung cảnh nhà hát opera rộng lớn, hay những nhà hàng xa hoa với những con người ăn vận sang trọng đã gây ấn tượng mạnh. Sự tương phản ấy phần nào thể hiện thế giới quan của nhân vật chính. Với Jenny, trường học hiện lên tẻ nhạt, buồn chán, còn thế giới bên ngoài lúc nào cũng rộng lớn, đầy ắp những điều mới lạ, hấp dẫn để cô khám phá…

Xem An Education, người xem cũng được dịp thưởng thức nhiều khung cảnh đẹp: đường phố London chìm ngập trong mưa, những dãy nhà quy củ xếp dọc phố ở vùng ngoại ô London, một khu nghĩa địa buồn với những hàng cây trụi lá, hay Paris tráng lệ với những cây cầu và sông Seine thơ mộng.

Và một ngôi sao mới ra đời

Như nhiều bộ phim Anh được đánh giá cao, An Education quy tụ những gương mặt tương đối quen thuộc với khán giả Anh Quốc như Emma Thompson, Olivia Williams, Alfred Molina, Dominic Cooper, Rosamund Pike, Sally Hawkin. Chỉ riêng nam diễn viên Peter Saargaad trong vai David là người Mỹ. Dễ hiểu vì sao bộ phim này đậm chất Anh đến vậy. Tất cả diễn viên đều đã làm tròn vai trò của mình. Nhưng chắc chắn không một ai trong An Education được ca ngợi nhiều như Carey Mulligan trong vai chính Jenny.

Lớn hơn nhân vật cô thủ vai đến 6 – 7 tuổi, nhưng Carey Mulligan vào vai thuyết phục đến nỗi, tưởng như chính cô đang sống cuộc đời của nhân vật vậy. Từ vẻ rạng ngời hạnh phúc không che giấu của Jenny mỗi khi ở bên người yêu, nét vui thích hớn hở mỗi khi đón nhận một bất ngờ mới, đến giọng điệu gay gắt của cô về sự “vô ích” của việc học hay cách cô khoe với mọi người về niềm vui David mang đến…tất cả đều được Carey thể hiện tinh tế, khéo léo. Khuôn mặt ngây thơ, ánh mắt tinh nghịch, dáng dấp thanh lịch của Carey Mulligan gợi nhớ rất nhiều đến huyền thoại Audrey Hepburn thuở nào. Không có gì lạ khi sau An Education, nữ diễn viên trẻ này liên tiếp được báo giới ca ngợi như một Audrey Hepburn mới, và sự kỳ vọng đó là hoàn toàn có cơ sở với những gì Carey thể hiện trong bộ phim ấn tượng này. Nhân vật cô nữ sinh Jenny đã đem về cho Carey giải Bafta đầu tiên trong sự nghiệop, cùng hàng loạt giải thưởng và đề cử giá trị khác.

(Đã đăng trên Sinh viên Việt Nam)

 
1 Comment

Posted by on 12/05/2010 in Reviews

 

The White Ribbon – Hồi chuông cảnh tỉnh

Michael Haneke không phải là một  tên tuổi xa lạ với các liên hoan phim và giải thưởng điện ảnh uy tín. Ông từng gây tiếng vang tại LHP Cannes với những Funny Games (đề cử giải Cành cọ vàng), The Piano Teacher (giải thưởng của hội đồng giám khảo Cannes, hai giải cho diễn viên nam và nữ xuất sắc nhất), hay Caché (giải đạo diễn xuất sắc nhất của Cannes và giải thưởng phim châu Âu). Thế nhưng, bộ phim đem lại cho Haneke nhiều thành công nhất có lẽ là tác phẩm mới nhất của ông, The White Ribbon (Dải ruy băng trắng). Bộ phim giải thích căn nguyên hình thành chủ nghĩa Phát-xit này đã giành giải Cành cọ vàng của LHP Cannes 2009 và mới đây, vào ngày 17 tháng 1 năm 2010, đoạt giải Quả Cầu Vàng cho bộ phim không nói tiếng Anh xuất sắc nhất. Giới phê bình phim dự đoán, The White Ribbon là một ứng cử viên nặng ký trong cuộc đua Oscar sắp tới.

Bạo lực tràn lan

Giống như nhiều phim trước của Michael Haneke, The White Ribbon tiếp tục khai thác đề tài về cội rễ và bản chất của bạo lực. Tuy thế lần này, Haneke tỏ ra tham vọng hơn khi làm việc với một số lượng diễn viên khá lớn và triển khai các ý tưởng trên diện rộng. Bối cảnh của The White Ribbon là một ngôi làng nhỏ tại Đức, nơi hàng loạt sự cố và tai nạn nghiêm trọng liên tiếp xảy ra với người dân trước thềm Thế chiến thứ nhất.

Trong The White Ribbon, Michael Haneke mô tả sự phân tầng rõ rệt và những giá trị đạo đức chi phối một cộng đồng. Trong ngôi làng nhỏ, Nam tước thống trị về kinh tế, vì có đến một nửa dân làng làm việc cho hắn. Trong khi đó, nhà thờ gây ảnh hưởng lớn về tinh thần, với đại diện là nhân vật mục sư khắc kỷ luôn phát biểu những bài diễn văn thống thiết nhưng giả tạo.

Bạo lực và xung đột lan tràn trong The White Ribbon. Mở đầu phim là cảnh một bác sĩ bị thương vì ngựa của ông vấp phải một đoạn dây thép do ai đó chăng ra từ trước. Sau “tai nạn” trên, một loạt sự cố tồi tệ liên tiếp xảy ra: con vẹt của viên mục sư bị giết; vợ một nông dân chết do tai nạn trong xưởng cưa; một cánh đồng bắp cải bị thiêu rụi, con trai Nam tước bị đánh đập trọng thương; một cậu bé thiểu năng trí tuệ bị hành hung dã man đến mức có nguy cơ bị mù… Bên cạnh những sự kiện bí ẩn đó là hàng loạt thước phim mô tả mối quan hệ đầy xung đột và căng thẳng giữa những thành viên trong nội bộ các gia đình: một người đàn ông khước từ người tình bằng lời lẽ tàn tệ, một người phụ nữ tuyên bố bỏ chồng, một cảnh sát điều tra hét vào mặt một bé gái hòng ép buộc cô bé khai báo sự thật, những người cha mắng mỏ, đánh đập con cái, thậm chí lạm dụng con để thoả mãn nhu cầu tinh dục. Những sự cố kì lạ xảy ra trong ngôi làng nhỏ để lại trong lòng khán giả nhiều cảm xúc lẫn lộn: băn khoăn, bàng hoàng, kinh ngạc pha lẫn ghê sợ…

Câu hỏi không lời đáp

Giống như trường hợp của Caché, khán giả không ngừng tìm kiếm lời giải đáp cho những câu hỏi đặt ra trong The White Ribbon. Người ta thắc mắc về kẻ đứng sau hàng loạt sự cố kỳ lạ xảy trong ngôi làng. Thế nhưng tới cuối phim, những câu hỏi vẫn chưa hoàn toàn được giải đáp. Thực chất, đạo diễn cố ý kể một câu chuyện bí ẩn để nêu ra những vấn đề nghiêm trọng hơn liên quan tới quyền lực và sự lạm dụng quyền lực, kỷ luật cứng nhắc và cái giá phải trả cho sự khắc kỉ. Haneke từ chối đưa ra một câu trả lời dễ dãi mà để khán giả tự suy ngẫm, tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình.

Để thực hiện ý đồ, Haneke cố ý trình bày sự việc một cách thật từ tốn. Vì lẽ đó, The White Ribbon được kể theo dòng hồi tưởng của một người đàn ông luống tuổi vốn là giáo viên tại ngôi làng kể trên. Lời kể chuyện trong phim có gì đó giống như lời khai của một nhân chứng trước toà. Là kẻ ngoài cuộc, người kể thuật lại câu chuyện của nhiều năm về trước một cách rành mạch, chi tiết, phần nào chậm rãi. Thay vì sử dụng âm nhạc có tiết tấu nhanh, tạo cảm giác kịch tính, điều thường thấy trong các bộ phim “thriller”, Haneke chỉ dùng đến âm thanh tự nhiên. Cách làm đó của ông tạo nên những khoảng lặng hiệu quả cho bộ phim, giúp người xem cảm nhận không khí căng thẳng trong các cuộc đối thoại, lắng nghe tiếng các nhân vật mỗi khi họ hít thở mạnh hoặc nức nở khóc. Ông cũng cố tình thực hiện những cảnh quay kéo dài, tạo cho khán giả cảm giác như họ đang ở trong cùng một căn phòng với nhân vật.

Sự từ  tốn ấy tỏ ra khá hiệu quả. Khán giả  không bao giờ biết chính xác lúc nào mình sẽ lại chứng kiến điều tồi tệ xảy ra. Không có âm nhạc báo trước cho họ hay bất cứ dấu hiệu cảnh báo rõ ràng nào. Tuy thế, luôn luôn có một điều gì đó đang, hoặc sắp xảy ra, khiến người ta phải ngỡ ngàng, kinh hãi. Không phải ngẫu nhiên mà Haneke chỉ chọn duy nhất hai màu đen trắng cho bộ phim của mình. Những thước phim hai màu chân phương không chỉ gợi lên cảm giác tăm tối, phù hợp với một cốt truyện đầy ắp bí ẩn, mà còn gây ấn tuợng về một thế giới tối tăm, u ám.

Hồi chuông cảnh tỉnh

Với  cách thể hiện giản dị, tinh tế mà chân thực đến rợn người, The White Ribbon đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh đối với xã hội hiện đại vô cảm. Không chỉ nói đến sự hình thành của chủ nghĩa Phát-xít Đức, The White Ribbon còn đề cập tới một đề tài bao quát, thời sự hơn rất nhiều. Đó là sự phát triển ngày một mạnh mẽ của chủ nghĩa khủng bố. Thực chất, những gì từng xảy ra với nước Đức xưa kia đã, đang diễn ra và có thể sẽ xảy đến với bất cứ quốc gia, vùng đất nào trên thế giới. Đau khổ chẳng bao giờ kết thúc một khi tội ác vẫn còn được dung túng, những âm mưu hiểm độc vẫn không được ngăn chặn, bạo lực còn tiếp diễn. Và tương lai của thế giới sẽ ra sao, khi nhiều em nhỏ vẫn phải sống trong những môi trường đầy xung đột và bạo lực, thiếu vắng tình yêu thương và sự chở che của người lớn? Sớm muộn gì, các em nhỏ đó cũng sẽ hình thành tính cách bất thường, nổi loạn, không kiểm soát được bản thân như trong The White Ribbon. Và vẻ ngoài trong sáng của các em, có thể sẽ trở thành một thứ gì đó vô nghĩa và lừa mị, như màu trắng của dải ruy băng mà tên mục sư ép con trai mình đeo ở một bên cánh tay để gợi nhớ sự thuần khiết ngây thơ.

Tội  ác không có lãnh thổ, đôi khi không có cả  nguyên nhân hợp lý và không thể dự đoán. Ác tâm và thù hận chẳng khác nào một dịch bệnh tàn ác len lỏi khắp nơi khắp chốn, đầu độc tâm hồn con người. Căn bệnh đó chính là nguồn cơn dẫn dến sự phát triển của chủ nghia Phát-xít, biến một đất nước văn minh tiến bộ vào bậc nhất trở thành một dân tộc lạnh lùng, tàn nhẫn. Đúng như Michael Haneke từng phát biểu, căn bệnh của ngôi làng trong phim chính là căn bệnh của nước Đức, và rộng hơn, căn bệnh của xã hội loài người.

(Đã đăng trên Sinh Viên Việt Nam, số 9, 2010)

.

 
Leave a comment

Posted by on 06/03/2010 in Reviews

 

Meryl Streep – Thần tượng giản dị

Anh 2

2009 quả là một năm bội thu với Meryl Streep khi hai bộ phim hài có chị tham gia là Julie & Julia và It’s Complicated đều thành công về doanh thu tại các phòng vé. Mới đây, Meryl lại tiếp tục nhận được một đề cử Quả Cầu Vàng cho giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong It’s Complicated và đoạt chính giải thưởng này với vai đầu bếp Julia Child trong Julie & Julia, làm giàu thêm kho thành tích đáng nể của mình.

60 tuổi vẫn hút khách

“Thật khó tin. Đã 60 tuổi rồi nhưng tôi vẫn còn được đóng vai chính trong các phim hài tình cảm!”, Meryl Streep đã thốt lên như vậy khi nói về thành công chị giành được với những bộ phim ăn khách. Điểm qua các tác phẩm điện ảnh có Meryl Streep tham gia trong những năm gần đây, ta sẽ thấy nữ diễn viên sinh năm 1949 này không chỉ giỏi gây ấn tượng với giới phê bình mà còn có khả năng chinh phục đông đảo khán giả bình dân. Bằng chứng là thành công của những bộ phim như Quỷ cái vận đồ Prada trình chiếu năm 2006, với doanh thu 324 triệu đô la, hay phim ca nhạc Mamma Mia! của năm 2008 thu lại 601 triệu đôla trên toàn thế giới. Hai phim mới nhất của Meryl Streep, Julie & Julia It’s Complicated cũng rất hút khách: tính đến thời điểm hiện nay, Julie & Julia đã thu về 121 triệu đôla, còn It’s Complicated vẫn đang nằm trong bảng xếp hạng các phim ăn khách nhất tại thị trường Mỹ. Theo tạp chí Forbes, trong vòng 1 năm kể từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009, Meryl Streep đã kiếm được 24 triệu đô la, đứng thứ ba trong danh sách nữ diễn viên có thu nhập cao nhất, chỉ chịu thua hai tên tuổi hút khách vào bậc nhất Hollywood là Angelina Jolie và Jennifer Aniston.

Thành công của Meryl Streep khiến cho giới làm phim Mỹ phải nể phục và suy ngẫm, bởi lẽ trước nay các bộ phim hài tình cảm vẫn thường nhắm đến đối tượng khán giá trẻ, với sự tham gia của các nữ diễn viên gợi cảm, hơn là đề cập đến những vấn đề của độ tuổi trung niên hay chuyện…tình già. Đạo diễn nổi tiếng Mike Nichols, người từng cộng tác nhiều lần với Meryl nhận xét, trong lịch sử chưa từng có một nữ diễn viên nào thành công đến thế ở độ tuổi trung niên. Thành công của Meryl Streep cho thấy, Hollywood có thể thu được bộn tiền thế nào với những bộ phim nhắm tới lớp khán giả nữ trưởng thành và lớn tuổi, chứ không chỉ là các em thiếu nhi và thanh thiếu niên như theo quan điểm thông thường.

Anh 3

Không ngừng vượt lên chính mình

Ở tuổi 60, Meryl Streep có tất cả. Một gia đình êm ấm với điêu khắc gia Don Gummer, người chồng chị đã sống chung được hơn ba chục năm (“thành tích” đáng nể đối với một ngôi sao điện ảnh Mỹ) và bốn người con. Đến nay, Meryl đã giành được cả thảy 15 đề cử Oscar, 23 đề cử Quả cầu vàng và sở hữu hai bức tượng vàng Oscar danh giá, một kỳ tích gần như không thể phá vỡ trong lịch sử điện ảnh. Thành công liên tiếp đến với Meryl, bởi chị không bao giờ cho phép mình ngủ quên trong chiến thắng. Sau mỗi thắng lợi, Meryl như được tiếp thêm động lực để chinh phục những đỉnh cao mới. Bằng chứng hiển nhiên là việc Meryl không bao giờ bị ‘chết vai.’ Trong khi một số tên tuổi lớn chỉ có thể thành công với một dạng vai nhất định, thì Meryl gây ấn tượng với hầu hết các vai chị đóng dù là ở phim bi hay phim hài. Meryl Streep luôn nỗ lực tự làm mới mình, vì chị không chấp nhận sự lặp lại. Từ hình ảnh người mẹ đáng thương trong Kramer vs. Kramer, hay người đàn bà yêu mãnh liệt và đau đớn trong Sophie’s choice (Lựa chọn của Sophie), cho đến phong cách lạnh lùng sành điệu của vị tổng biên tập trong Quỷ cái vận đồ Prada, rồi gần đây nhất là người phụ nữ bị giằng xé trong mối quan hệ tình cảm tay ba với chồng cũ và người tình mới trong It’s Complicated, Meryl Streep đều thể hiện một cách đầy thuyết phục. Chị là minh chứng hùng hồn cho thấy cuộc sống không bao giờ kết thúc ở bất cứ độ tuổi nào, nếu người ta không ngừng nỗ lực vươn lên.

Meryl hồi năm 1979, khi đóng phim Kramer vs. Kramer, bộ phim giúp chị giành giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.

Meryl hồi năm 1979, khi đóng phim Kramer vs. Kramer, bộ phim giúp chị giành giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất

Ngôi sao được yêu mến

Meryl Streep tâm sự, thuở còn đôi mươi, chị từng lo lắng về ngoại hình của mình. Thời điểm đó, Meryl bị không ít nguời chê bai vì không sở hữu một vẻ đẹp rực rỡ. Dù thế, Meryl vẫn nỗ lực chứng tỏ mình, không để những lời chê bai hay chỉ trích làm nhụt chí. “Hồi trẻ tôi đã bỏ phí quá nhiều thời gian lo lắng xem mình có đủ hấp dẫn hay không. Nhưng sau một thời gian, tôi đâm chán ngấy chuyện đó. Gì thì gì, tôi cũng có bao giờ đủ xinh đẹp đâu,” Meryl ranh mãnh nói.

Nhiếp ảnh gia nổi tiếng Brigitte Lacombe, người từng có cơ hội làm việc với Meryl Streep thì cho rằng, dù không hấp dẫn theo lối thông thường, Meryl vẫn là một nguời phụ nữ xinh đẹp và hết sức đặc biệt. Lacombe cho biết, “Ở Meryl không hề có sự ngạo mạn.” Meryl Streep không bao giờ tỏ ra mình là một ngôi sao, và không mấy bận tâm chuyện mình trông thế nào trên màn hình hay trong các tấm ảnh. Khác với nhiều người mẫu, diễn viên luôn lo lắng chăm chút sao cho bản thân mình trông thật xinh đẹp trước ống kính, Meryl Streep chỉ quan tâm xem điều gì là tốt nhất cho vai diễn. Chị không hề để sự tự ti và âu lo làm vướng bận tâm trí. Ngay cả khi ngày một lớn tuổi hơn, Meryl Streep cũng từ chối nhờ đến phẫu thuật thẩm mỹ hay tiêm Botox. Meryl cho biết, khi nói chuyện với những người đã sửa sang sắc đẹp, chị cảm thấy mất tự nhiên, giống như thể họ đang đeo một tấm mạng che mặt, và “điều đó chẳng có gì thú vị”. Chính quan điểm đó khiến nhiếp ảnh gia Lacombe cảm thấy thích thú và thoải mái khi làm việc với Meryl, dù bản thân chị lại thú nhận rằng mình không thích chụp hình.

meryl-streep-portfolio-1001-05

Meryl Streep bên con gái Louisa, ảnh chụp năm 1991

Meryl Streep bên con gái Louisa, ảnh chụp năm 1991

Tính cách giản dị, khiếu hài hước và tinh thần lạc quan của Meryl “bò bùa” tất cả những người xung quanh chị. Các diễn viên nổi tiếng như Penelope Cruz, Anne Hathaway, Emily Blunt, hay Claires Danes đều thổ lộ rằng họ vô cùng hâm mộ Meryl và coi chị là một tấm gương để noi theo. Những đạo diễn từng làm việc với Meryl Streep cũng hết lời ca ngợi tài năng và nhiệt huyết của nữ diễn viên này. John Patrick Shanley, đạo diễn kiêm người viết kịch bản cho bộ phim Doubt từng đem lại cho Meryl Streep giải thưởng của Hiệp hội diễn viên Mỹ năm ngoái thổ lộ, chọn Meryl vào vai xơ Aloysius Beauvier trong Doubt là điều “khỏi cần suy nghĩ”, bởi lẽ “nếu hỏi ngẫu nhiên 20 người xem ai nên đóng vai này, họ sẽ đều xướng tên Meryl Streep”. Đạo diễn Mike Nichols thì tâm sự, ông thấy vui thích khi được làm việc với Meryl Streep, vì chị luôn nghĩ “Ôi – Lại thêm một ngày nữa mình được làm việc”, và bản thân ông cảm nhận được điều đó khi ở bên cạnh Meryl. Đạo diễn Nora Ephron, người làm việc với Meryl trong Julie & Julia phát biểu: “Sự thực là chị ấy tìm hiểu tất tật về Julia Child, chị ấy xem đi xem lại các cuốn băng dạy nấu ăn, làm việc nhiều tuần lễ với Ann Roth (người thiết kế trang phục) để tìm hiểu nhân vật qua các trang phục, thậm chí còn nài nỉ tôi mời Stanley Tucci đóng vai chồng mình.” Chẳng thế mà đạo diễn kì cựu Clint Eastwood, khi được hỏi vì sao lại mời Meryl vào vai bà nội trợ trong Những cây cầu ở quận Mađison, đã trả lời không chút do dự: “Vì cô ấy là nữ diễn viên vĩ đại nhất.”

“Tôi biết ơn vì còn được sống. Nhiều bạn bè của tôi phải chống trọi với ốm đau bệnh tật, hoặc đã ra đi rồi, thế mà tôi vẫn còn đây. Không thể than phiền gì được”, Meryl Streep đã tâm sự như thế với tờ Vanity Fair.

(Theo Vanity Fair)

(Đã đăng trên Thanh Niên tuần san số 196, 2010)

 
Leave a comment

Posted by on 29/01/2010 in Features

 

Khi công chúa hoá…ếch

Chuyện cổ  tích đầu thế kỷ 20

Những ai từng đắm mình trong kho tàng cổ tích của anh em nhà Grimm hẳn vẫn chưa quên câu chuyện về hoàng tử ếch, trong đó một chàng hoàng tử đẹp trai bị phù phép hóa thành ếch, và chỉ khi được một nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần cứu giúp, hoàng tử mới có thể trở lại làm người. Dựa trên câu chuyện của anh em nhà Grimm, bộ phim hoạt hình The Princess and the Frog (Công chúa và chàng Ếch) của hãng Disney cũng kể về mối tình kì lạ giữa một mỹ nhân và vị hoàng tử đẹp trai đội lốt ếch, duy có điều nụ hôn của nàng chẳng những không giúp hóa giải thứ phép thuật quái ác cho hoàng tử, mà còn khiến người đẹp phải chịu chung số phận với chàng!

Lấy bối cảnh thành phố New Orleans, Mỹ, thập niên 20 của thế kỷ trước, The Princess and the Frog xoay quanh câu chuyện về chàng hoàng tử Naveen xứ Maldonia đẹp trai, đào hoa và cô bồi bàn xinh đẹp Tiana, người miễn cưỡng chấp nhận trao cho Naveen một nụ hôn “ân huệ” để cứu chàng khỏi lốt ếch xấu xí. Nụ hôn “oan nghiệt” này rốt cuộc lại biến chính người đẹp thành ếch, và sau đó, thay vì sửa soạn cử hành hôn lễ, đôi tình nhân ếch phải dấn thân vào một cuộc hành trình gian nan qua nhiều miền đất kỳ bí để hóa giải thứ phép thuật tai quái, trở về hình dạng con người.

Sự  trở lại của dòng phim 2D

The Princess and the Frog, tác phẩm hoạt hình mới của hãng Walt Disney lần này thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả nhiều lứa tuổi không chỉ bởi cốt truyện vui nhộn kể trên, mà còn vì bộ phim được làm theo công nghệ 2D xưa cũ trong thời buổi hàng loạt phim 3D đang làm mưa làm gió tại các rạp chiếu. Thế nhưng đó chính là ý đồ của John Musker và Ron Clements, cặp đạo diễn từng hợp tác ăn ý trong các tác phẩm thuộc hàng “kinh điển” trong thời kỳ hoàng kim của phim hoạt hình 2D như Nàng tiên cá, Aladdin và Thần đèn, hay Hercules,…Với The Princess and the Frog, hai đạo diễn tài năng muốn làm sống lại không khí của những bộ phim 2D vẽ bằng tay thuở nào, và trên hết, chứng tỏ rằng không phải công nghệ hiện đại, mà chính nội dung và cách thể hiện mới là điều làm nên thành công của một tác phẩm hoạt hình.

Để làm được điều này, John Musker và Ron Clements quyết định đầu tư thật nhiều công sức cũng như tiền của vào nhạc phim, vì âm nhạc theo phong cách kịch Broadway chính là một đặc trưng của dòng phim 2D những năm 80 và 90 của thế kỷ trước. Âm nhạc chủ đạo trong phim sẽ là nhạc jazz, do nhà soạn nhạc nổi tiếng Randy Newman phụ trách. Rất nhiều giọng ca tài năng cũng được mời đến tham gia lồng tiếng cho các nhân vật trong phim, trong đó có diễn viên Anika Noni Rose của phim ca nhạc Dreamgirls, trong vai Tiana và cả nữ hoàng talk show đa tài Oprah Winfrey trong vai mẹ Tiana.

Ngoài  âm nhạc, các nhà làm phim cũng chú ý xây dựng bối cảnh và nhân vật sao cho thú vị, hấp dẫn. Không phải ngẫu nhiên mà địa điểm được chọn để mở đầu câu chuyện lại là quận French Quarter thuộc New Orleans, một điểm mốc văn hóa, lịch sử nổi tiếng trên đất Mỹ, với nhiều công trình kiến trúc kỳ vĩ. Và lần đầu tiên trong lịch sử phim hoạt hình Walt Disney, có một  “công chúa” là người Mỹ gốc Phi. Đây cũng là một thiếu nữ vô cùng cá tính, bởi tham vọng của Tiana xinh đẹp không phải là cưới được hoàng tử, mà nàng ước mơ làm chủ một nhà hàng lớn của riêng mình. Naveen của The Princess and the Frog cũng không giống hình tượng vị hoàng tử hiền lành thường thấy trong nhiều phim hoạt hình; chàng vốn dĩ là một kẻ thừa kế ngỗ nghịch bị gia đình hoàng gia chối bỏ. Thêm vào đó, để nêm gia vị cho câu chuyện tình trái khoáy, bạn đồng hành của họ trong cuộc hành trình có một không hai là một chú đom đóm si tình và một con cá sấu biết chơi kèn trumpet!

Bộ  phim dành cho mọi lứa tuổi

Ra mắt đúng dịp nghỉ lễ cuối năm, The Princess and the Frog có thể coi là một bộ phim lý tưởng cho gia đình và các cặp tình nhân. Tác phẩm hoạt hình này không chỉ thích hợp cho các khán giả nhí, bởi lời thoại hài hước và âm nhạc rộn ràng, mà còn rất lý tưởng cho những cuộc hẹn hò, nhờ câu truyện tình vui nhộn, oái oăm đậm màu cổ tích. Kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, hành động và lãng mạn, The Princess and the Frog hứa hẹn đem đến cho khán giả mọi lứa tuổi những phút giây giải trí tươi vui và sảng khoái!

Đánh giá của Minh Thi: 3.5/5

(Đã đăng trên 2! Đẹp)

 
1 Comment

Posted by on 10/01/2010 in On Screen

 

Sherlock Holmes tái xuất!


Độc giả hâm mộ loạt truyện trinh thám nổi tiếng của văn sĩ người Anh Conan Doyle hẳn không thể làm ngơ khi được biết hình ảnh chàng thám tử đại tài Sherlock Holmes lại một lần nữa được tái hiện trên màn ảnh rộng, dưới bàn tay “nhào nặn” của đạo diễn Guy Ritchie, người từng gây tiếng vang với các bộ phim thuộc thể loại hình sự – tội phạm như Lock, Stock and Two Smoking BarrelsSnatch. Đáng chú ý hơn, dàn diễn viên chính của bộ phim mới này lại là những tên tuổi vô cùng sáng giá: “Người sắt” Robert Downey Jr. trong vai thám tử lập dị Sherlock Holmes, tài tử đào hoa Jude Law trong vai bác sỹ John Watson, và nữ diễn viên Rachel McAdams với vai Irene Adler, người đẹp quyến rũ làm chao đảo trái tim Sherlock Holmes.

Ở phiên bản mới, Sherlock Holmes cùng người cộng sự “như hình với bóng”, bác sỹ Watson phải đối mặt với một âm mưu khủng khiếp đe doạ sự an nguy của nước nhà. Địch thủ của Sherlock Holmes lần này là tay giết người hàng loạt Lord Blackwood, một kẻ thù cũ từng bị Sherlock Holmes “lật mặt” đột ngột trở về từ cõi chết và tiếp tục gây ra hàng loạt vụ án mạng thảm khốc. Thế là một lần nữa, chàng thám tử đại tài phải vận dụng trí thông minh siêu phàm để lần theo những trò đùa tai quái và mưu đồ hiểm độc hòng đưa tội ác ra ánh sáng.

Trong những ngày đầu ra mắt, Sherlock Holmes của Guy Ritchie nhận đuợc rất nhiều phản hồi khác nhau. Một số độc giả ái mộ hình tượng Sherlock Holmes xưa cũ tỏ ý không thật sự bằng lòng với nhân vật thám tử được miêu tả trong phim, trong khi số khác lại thích thú với hình ảnh Sherlock Holmes mới mẻ của Guy Ritchie. Dù vậy, phần đông người xem đều ủng hộ bộ phim và đánh giá cao tính giải trí cùng sự hài hước đậm chất Anh của bộ phim trinh thám này. Trong khi ấy, giới phê bình phim, dù có nhiều luồng ý kiến khen chê khác nhau về Sherlock Holmes, đều hết lời ca ngợi tài năng diễn xuất của hai diễn viên chính Robert Downey Jr. và Jude Law.

Đạo diễn Guy Ritchie, người từng say mê loạt truyện trinh thám cuốn hút của nhà văn Conan Doyle từ thuở nhỏ, đặt rất nhiều kỳ vọng vào tác phẩm con cưng của mình. Với mong muốn đem đến cho người xem một Sherlock Holmes thật sự độc đáo và ấn tượng, Ritchie cố ý đi xa khỏi lối mòn của các phiên bản trước đây và tạo nên sự khác biệt trong kịch bản. Ông xây dựng hình ảnh một Sherlock Holmes hiện đại, mạnh mẽ và xông xáo, phần nào khác biệt so với hình tượng thám tử quá quen thuộc đến cũ mòn trong lòng các độc giả trinh thám. Hình ảnh bác sỹ Watson đôi chút ngờ nghệch thường thấy trong các bộ phim cũ về Sherlock Holmes cũng sẽ không xuất hiện trong phiên bản mới này. Thay vào đó, bác sỹ Watson do Jude Law thủ vai lại hiện lên với đầy đủ các phẩm chất “ưu tú” thấp thoáng trong truyện: tính cách can đảm của một cựu chiến binh, sự hiểu biết của một một bác sĩ, vẻ hào hoa phong nhã… Thêm vào dó, Guy Ritchie cũng chú trọng đưa vào phim nhiều pha hành động hấp dẫn, mà ông cho rằng xuất hiện không ít trong truyện, nhưng hiếm khi được miêu tả trong các phiêu bản cũ. Sherlock Holmes của Guy Ritchie vì thế mang nhiều nét khác lạ, độc đáo, mang hơi hướng của một bộ phim hành động – hình sự kiểu mới, song vẫn lưu giữ và phát triển những yếu tố thú vị có sẵn trong nguyên bản.

Đánh giá của Minh Thi: 4/5

(Đã đăng trên 2! Đẹp, bản này đầy đủ hơn)

 
8 Comments

Posted by on 10/01/2010 in On Screen

 

Avatar – Cú kết hoành tráng của mùa phim 2009

Tháng 12 năm nay, quả bom tấn 3-D Avatar của đạo diễn kì cựu James Cameron, người từng gây tiếng vang với hàng loạt các bộ phim ăn khách như  Terminator, Alien,  True Lies hay Titanic… sẽ chính thức ra mắt trong niềm hân hoan của hàng triệu người hâm mộ điện ảnh trên toàn thế giới.

https://i0.wp.com/img.2sao.vietnamnet.vn/2009/10/27/13/31/091027avatar1.jpg

Tham vọng ấp ủ mười bốn năm

Ý tưởng về một bộ phim khoa học giả tưởng kể về cuộc tranh chấp giữa cư dân địa cầu và người ngoài hành tinh bắt đầu được hình thành trong đầu vị đạo diễn tài danh từ năm 1994. Khi ấy, bản thảo kịch bản thô sơ của James Cameron đã lên đến 80 trang. Cameron cho biết, ông lấy cảm hứng viết Avatar từ tất cả những cuốn sách khoa học giả tưởng từng đọc được từ thuở ấu thơ và câu chuyện có thật về huyền thoại Pocahontas xưa kia. Năm 1996, James tuyên bố sẽ bắt tay thực hiện Avatar sau khi hoàn thành Titanic. Theo dự kiến của ông, Avatar lẽ ra đã phải được thực hiện trong mùa hè 1997 để trình chiếu vào hai năm sau đó. Thế nhưng số tiền dự kiến đổ vào Avatar lại lên đến 400 triệu USD, một con số quá khủng khiếp! Quan trọng hơn, thế giới trong tưởng tượng của James Cameron quá hoành tráng và phức tạp để kiến tạo, đến mức công nghệ tiên tiến nhất vào thời điểm ấy cũng chưa đủ thỏa mãn. Thế nên, Cameron rốt cuộc đành phải ngậm ngùi gác lại tham vọng lớn của mình cho tương lai. Chỉ đến khi chứng kiến những gì Peter Jackson làm được với nhân vật Gollum trong series The Lord of the Rings và siêu phẩm King Kong hồi 2005, James Cameron mới bắt đầu tin tưởng vào tính khả thi của dự án Avatar. Và thế là đầu năm 2006, James bắt tay vào xây dựng kịch bản hoàn chỉnh cho dự án mà ông tin sẽ trở thành “kiệt tác của đời mình.”

Nội dung Avatar xoay quanh một cựu sĩ quan thủy quân lục chiến có tên Jake Sully. Sau một trận chiến, Jake không may bị liệt phần thân dưới và được chọn tham gia vào một chương trình cấy ghép gen để trở thành “Avatar” – một dạng cơ thể hiện thân lai giữa người Trái Đất và người Na’vi, cư dân hành tinh Pandora xa xôi. Sở dĩ có chương trình kì lạ trên là do người Trái Đất quyết định đổ bộ vào Pandora để đem khoáng sản quý từ nơi này về cứu trái đất trong cơn khủng hoảng năng lượng. Kế hoạch này mắc phải một khó khăn là không khí trên Pandora khác hẳn với không khí địa cầu, nên chỉ những “Avatar” như Jake mới có thể hít thở không khí nơi đây. Sau khi được cấy ghép gen, Jake trong cơ thể lành lặn của một Avatar xâm nhập vào hành tinh xa lạ. Tại đây, anh bắt đầu khám phá thế giới kì ảo của Pandora, kết bạn với cư dân Na’vi và gặp gỡ người con gái anh yêu – công chúa Neytiri của tộc người Na’vi. Từ đó trong lòng Jake Sully bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn lớn. Đứng giữa hai bờ chiến tuyến, anh buộc phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc thi hành nghĩa vụ của một công dân địa cầu, hoặc chung vai sát cánh bên dân tộc Na’vi bảo vệ quê hương tươi đẹp của người thương.

Một thế giới hoàn toàn mới lạ

Với một siêu phẩm như Avatar, chỉ riêng tên tuổi của James Cameron cũng đủ lôi kéo một lượng khán giả khổng lồ tới rạp, chưa kể đến những chiến dịch marketing rầm rộ. Thế nhưng sức hút lớn nhất của Avatar có lẽ chính là thế giới mới lạ mà bộ phim hứa hẹn sẽ mở ra. Bối cảnh của Avatar là hành tinh Pandora xanh rờn cây cối, cách trái đất 4,4 năm ánh sáng. Pandora là một miền đất hoang sơ như một cánh rừng ngập mặn cổ xưa. Nơi đây cư ngụ nhiều loại sinh vật ăn thịt đáng sợ và dân tộc Na’vi, giống người sở hữu chiều cao ba mét vượt trội, có đuôi và làn da màn xanh. Đối với người trái đất, dân Na’vi chỉ giống như một tộc người nguyên thủy dữ dằn, nhưng thực ra họ tiến bộ và khôn ngoan hơn con người rất nhiều.

Để dựng nên một thế giới khác biệt, kì ảo, mà sống động như thật – thế giới của người Na’vi, James Cameron đã phải nhờ đến những kĩ xảo điện ảnh tiên tiến vào bậc nhất, thậm chí đi trước thời đại. Ông còn quyết định tạo ra hẳn một nền văn hóa và ngôn ngữ riêng cho dân tộc Na’vi tưởng tượng. Để làm được điều này, Cameron đã phải nhờ đến một chuyên gia ngôn ngữ hàng đầu của trường đại học USC xây dựng cả một hệ ngôn ngữ mới dành riêng cho dân tộc Na’vi. Khâu âm nhạc của Avatar cũng được chăm sóc kĩ lưỡng, khi nhà soạn nhạc cho bộ phim phải cộng tác với một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc để soạn ra thứ âm nhạc dành riêng cho cư dân Pandora.

Một Titanic thứ hai?

So với Titanic, siêu phẩm ăn khách nhất mọi thời đại của chính James Cameron, quả bom tấn Avatar có khá nhiều nét tương đồng. Trước hết là sự trở lại của nhà sản xuất Jon Laudau, người từng tham gia sản xuất Titanic năm xưa. Kế đến là sự tham gia của James Horner, nhà soạn nhạc lừng danh từng làm mê đắm hàng triệu con tim với ca khúc My Heart will Go on ngày nào. Song điểm tương đồng đáng kể nhất giữa hai bộ phim nằm ở ngay chính chủ đề phim. Giống như Titanic, Avatar cũng là một siêu phẩm khai thác đề tài tình yêu bị cấm đoán (forbidden love). Nếu như tình yêu giữa chàng Jack lãng tử và nàng tiểu thư Rose dòng dõi quý tộc của Titanic bị ngăn trở trở bởi địa vị xã hội cách biệt thì Jake và Neytiri trong Avatar lại khó lòng đến được với nhau do sự khác biệt về chủng tộc và bổn phận của mỗi người đối với quê hương.

Các diễn viên của Avatar được James Cameron tuyển chọn hết sức kĩ càng. Để tiết kiệm tối đa kinh phí, James không viện đến những tên tuổi lớn mà quyết định chọn những gương mặt không quen thuộc nhưng đầy triển vọng. Vai công chúa Neytiri của tộc người Na’vi được giao cho diễn viên Zoe Saldana, nàng Uhura quyến rũ của phiên bản Star Trek 2009. Với Zoe, đây là một thử thách không hề đơn giản, bởi nếu như Kate Winslet của Titanic từng phải lặn lội ngày đêm trong nuớc lạnh giữa tiết trời rét mướt, thì Zoe Saldana cũng không tránh khỏi “trầy vi tróc vẩy” do phải luyện võ, học cưỡi ngựa, bắn cung, cử tạ để vào vai công chúa Neytiri. Zoe cũng tiết lộ, các diễn viên của Avatar còn được yêu cầu phải “quên mình là người” để vào vai thật “ngọt”.

Vai chính của Avatar, Jake Sully thuộc về diễn viên Sam Worthington, chàng Marcus Wright của Terminator Salvation. James Cameron tiết lộ Sam Worthington được lựa chọn từ khá sớm, và trong số hàng loạt các diễn viên triển vọng khác cùng thử vai, anh không hề có đối thủ! Khi quyết định chọn Worthington, Cameron tin rằng anh sẽ cố gắng hết sức mình để chứng tỏ bản thân, vì Worthington chưa bao giờ được giao phó một vai diễn nào thực sự lớn cả. Là một đạo diễn cầu toàn, Cameron đưa ra một yêu cầu không hề dễ dàng đối với Worthington, đó là phải thổi lửa vào nhân vật, đem đến cho Jake Sully “phẩm chất của một thủ lĩnh có thể làm thay đổi cả thế giới.

Tất cả những nỗ lực trên của đoàn phim, theo lời James Cameron, là để tạo ra một tác phẩm điện ảnh “hòa trộn giữa hành động và phiêu lưu”, cống hiến cho người xem một màn trình diễn tuyệt vời làm lay động con tim, đồng thời cũng khiến họ phải “suy ngẫm đôi chút về lối cư xử của mình đối với đồng loại và thiên nhiên”. Lạc quan là thế về thành công của Avatar, James Cameron cũng không hề úp mở dự định thực hiện hai phần tiếp theo của siêu phẩm con cưng trong tương lai. Đây có lẽ không chỉ là lời nói suông, vì hai diễn viên chính của Avatar, Sam Worthington và Zoe Saldana thậm chí đã ký hợp đồng đóng các phần tiếp theo của Avatar (nếu có).

Được nhào nặn dưới bàn tay của một đạo diễn hàng đầu Hollywood, với kịch bản lôi cuốn, ấn tượng, cùng kĩ xảo hoành tráng hứa hẹn làm nức lòng đông đảo fan hâm mộ, thành công của Avatar dường như là điều có thể tiên liệu trước. Câu hỏi được đặt ra là, liệu Avatar có thể trở thành một Titanic thứ hai, thậm chí đánh đổ vị trí của bộ phim huyền thoại năm xưa để trở thành siêu phẩm hốt bạc nhất mọi thời đại hay không? Câu trả lời sẽ chỉ được hé mở sau 18/12, ngày công chiếu Avatar trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam!!!

(Bản rút gọn được đăng trên 2! Đẹp, số tháng 1/2009)

 
4 Comments

Posted by on 07/12/2009 in On Screen, Preview

 
 
%d bloggers like this: