RSS

Author Archives: Moonie Mun

Cánh Diều 2013: Chân tiểu nhân – Ngụy quân tử

Bài viết dưới đây do độc giả Dương Vi gửi tới Filmcriticvn, quan điểm của Dương Vi có thể không trùng với quan điểm của người đăng bài.

 

Sát với thời điểm công bố giải thưởng Cánh Diều 2013, một giải thưởng mà ở nước ta có vai trò tương tự giải Oscar nhưng thực tế là không được xã hội chú ý cho lắm, trong ngành điện ảnh bỗng chốc xảy ra hai sự kiện đau lòng. Thứ  nhất là cái chết thương tâm của gia đình ông Lê Minh Phương, một người làm công tác khói lửa; và sự ra đi của đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu, người mới chỉ vừa 37 tuổi và chưa kịp nhìn thấy bộ phim điện ảnh đầu tay của mình được công chiếu tại rạp. Nhắc người đã khuất, để thấy rằng những cái tên cá nhân đã được nhắc đến trong 11 phim điện ảnh của Cánh Diều năm nay đều là những người may mắn hơn Đỗ Quang Hải Âu rất nhiều. Họ ít ra còn có cơ hội được trau chuốt đứa con tinh thần của mình, và chứng kiến nó được công chúng đón nhận hoặc chối bỏ. Hóa ra, cái điều tưởng như đương nhiên này lại quý giá đến thế. Vậy thì cơ hội ấy đã được từng người sử dụng như thế nào ? 

Vốn vẫn được coi là “chính phái”, các bộ phim do Nhà Nước đầu tư sản xuất xưa nay được dán nhãn “nghệ thuật”. Đã rất nhiều lần các vị tiền bối trong làng phim đã phải thốt lên rằng phim tư nhân chỉ biết đến lợi nhuận, nếu cấp trên ngừng rót tiền đầu tư cho các Hãng phim nhà nước , ắt phim có giá trị nghệ thuật và nhân văn cao phải chết. Cánh Diều 2013 chứng mình lý thuyết nêu trên sai bét.   

Hãy cùng  nhìn vào hai bộ phim được Bộ VHTTTT gửi gắm cho những tên tuổi gạo cội: Đam Mê và Cát Nóng. Đạo diễn Lê Hoàng vinh dự được thực hiện một bộ phim có tổng vốn đầu tư lên tới 6 tỷ đồng tiền nhà nước, và được công chiếu tại lễ khai mạc LHP Quốc Tế Hà Nội 2012 – Cát Nóng. Thế như bộ phim ấy đã khiến cho hầu hết quan khách nước ngoài có cơ hội được ăn tiệc sớm vì đều phải bỏ ra ngoài sau chừng 30 phút. Số còn ngồi lại, có lẽ là người Việt muốn được xem đến cùng những mảng miếng khiến cho điện ảnh Việt Nam phải bưng mặt xấu hổ với bạn bè quốc tế. Và sự kiên nhẫn của họ được đền đáp xứng đáng, khi một nhân vật nữ thẳng tay chặt đầu những con giông thật trong phần cuối của một bộ phim có chủ đề bảo vệ môi trường. Đã có tiếng hô to phản đối từ một khán giả nào đó trong khán phòng, hành động không được lịch thiệp này có lẽ cũng dễ được thông cảm hơn so với sự đạo đức giả của Cát Nóng. Một số thành viên của Trại sáng tác Tài Năng Trẻ gặp nhau sau khi xem phim đã ngao ngán thốt lên rằng, 6 tỷ ấy có thể làm được 2-3 phim độc lập kiểu Dành Cho Tháng Sáu, giá mà… Đối với Đam Mê của Phi Tiến Sơn, công bằng mà nói, có khá hơn Cát Nóng về mặt điện ảnh. Nghĩa là nếu Lê Hoàng quá thể dở, thì Phi Tiến Sơn mới chỉ ở mức dở. Có vẻ như chủ đề của phim nhà nước năm vừa rồi là bảo vệ môi trường, Đam Mê cũng có ít nhiều yếu tố ấy, ngoài ra còn cài cắm thêm nhiều những luận đề tư tưởng về những đam mê của mỗi người. Nghe ra thì cũng hay, chỉ có điều các nhân vật trong phim đều được xây dựng theo kiểu một chiều, đam mê của họ nông nổi, sơ sài và kỳ cục, xem mà chỉ muốn phì cười như xem trò trẻ. Trong một lô những con người kỳ quái không giống ai, thì vai diễn của Hứa Vĩ Văn hóa ra lại gần gũi với đời sống nhất. Ấy thế mà Hứa Vĩ Văn lại đóng vai phản diện và phải nhận một đoạn kết không hay cho lắm, hóa ra Đam Mê kết luận là muốn kết cục có hậu thì phải sống trên mây. Mà thêm nữa, đôi khi Đam Mê cũng khiến những người đã xem ngờ ngợ rằng hình như thâm sâu dưới tầng tầng lớp nghĩa, bộ phim này có những ám hiệu chỉ dấu về những mối tình đồng tính nam, và cả nữ. Có lẽ vấn đề Hôn nhân đồng tính gần đây được coi là một vấn đề chính trị được quan tâm, nên phim cũng góp phần cập nhật thêm. Nhưng liệu có kiểu nghê thuật nào như thế không, hỡi các phim nhà nước ? Có chăng thì chỉ là loại nghệ thuật giả vờ.

Những tưởng bệnh nghệ thuật giả vờ chỉ là bệnh của phim nhà nước, hóa ra phim tư nhân và phim hợp tác quốc tế cũng bị mới chết. Một ẩn số lớn của giải – Lạc Lối (đạo diễn Phạm Nhuệ Giang) – sau khi được chiếu cho BGK và một số phóng viên, đã khiến nhiều đại diện của giới truyền thông ngộ độc tập thể. Nghĩ mà thương cho BGK biết bao (vì trong một buổi chiều phải xem Lạc Lối và Cát Nóng liền một lúc). Đưa ra một luận đề về sự khác biệt giữa giầu và nghèo, nhưng lại cũ rích kiểu nghèo thì tốt bụng sáng ngời, giầu thì xấu xa đồi bại, chỉ vừa mới cảnh đầu tiên cũng đã làm vài người thở dài. Phần còn lại cũng không khá hơn khi phim chỉ toàn là chắp vá các tình tiết lặt vặt, với một kiểu xây dựng nhân vật giống y chang những phim truyền hình ngô nghê nhất của Văn Nghệ Chủ Nhật một thời. Đây là một bộ phim hợp tác quốc tế khi đạo diễn Nhuệ Giang đã dày công xin được tiền tài trợ của nước ngoài, nhưng mà phim thế này thì không thể gọi là phim nghệ thuật được. Một phim khác, một phim mà sự xuất hiện của nó hết sức kịch tính, ấy là Mùa Hè Lạnh (đạo diễn Ngô Quang Hải). Xuất hiện vào phút chót, ứng viên Mùa Hè Lạnh cũng chỉ là một bất ngờ mang tính trớt qướt, y hệt như cái kết của chính nó. Với tham vọng tạo nên một bộ phim có ngôn ngữ hiện đại, những gì mà đạo diễn thể hiện là sự học mót lung tung từ nhiều phim và nhiều nhà làm phim, nhồi nhét vào một tổng thể thảm hại. Cộng với phần dựng phim nghiệp dư, cũng như phần âm thanh do đạo diên tự biên tự diễn lúc to lúc tịt, Mùa Hè Lạnh chắc chắn là cũng chỉ cùng một chiếu với những phim không có chút le lói đoạt giải như Gia Sư Nữ Quái hay Dành Cho Tháng Sáu. Nhưng cũng nên công bằng với hai phim của Lê Bảo Trung và Nguyễn Hữu Tuấn, hai phim ấy vẫn khá hơn Mùa Hè Lạnh nhiều. Điều gây thắc mắc lớn cho nhiều người là, cả Phạm Nhuệ Giang và Ngô Quang Hải đều đã phải tự thân trải qua một thời gian dài nung nấu, qua bao khó khăn tìm kinh phí, xin đầu tư, rồi vượt muôn nhọc nhằn để làm ra được một bộ phim, sao họ lại phải khổ như thế vì những bộ phim không ra gì ? Thật là không đáng cho công sức lao động nghệ thuật của họ chút nào.

Một bệnh khác của điện ảnh VN gần đây, đặc biệt là điện ảnh tư nhân, ấy là sự làm ẩu, ẩu vì tiến độ bị ép phải làm quá nhanh. Thành ra những đứa con tinh thần của các đạo diễn có thành hình hài, nhưng còn còi cọc. Nếu có một người dựng chuyên nghiệp, Mùa Hè Lạnh chắc chắn là một phim coi được của năm 2012. Nếu đạo diễn không quá tham mà tự dựng phim, thì Lấy Chồng Người Ta có thể coi là phim hay nhất vì những bước tiến dài về ngôn ngữ mà Lưu Huỳnh đạt được. Nhưng trên thực tế, sự lê thê dài dòng đã giết chết cả hai bộ phim. Dựng phim là giai đoạn cần sự tinh tế và tỉnh táo, nhưng với lịch sản xuất quá gấp gáp, người dựng phim khó mà có thể đưa ra bản phim hoàn hảo và hợp lý nhất được. Một phim VN hiện nay có thời gian sản xuất trung bình tính từ tiền kỳ đến công chiếu là chừng 5-6 tháng, một tốc độ siêu tốc ! Với tốc độ như thế thì với ngay cả một đạo diễn cứng cựa như Charlie Nguyễn cũng chỉ có thể làm phim theo kiểu đối phó, Cưới Ngay Kẻo Lỡ là ví dụ nhãn tiền. Bộ phim ấy phải khiến cho đạo diễn của nó phải kêu lên rằng đây là phim tệ nhất anh từng làm, và từ giờ trở đi sẽ không làm như thế nữa… Cho nên năm nay, Cưới Ngay Kẻo Lỡ sẽ không thể giúp Charlie Nguyễn có cơ hội lên nhận giải như với Long Ruồi.

Điểm sáng của năm nay là Victor Vũ khi anh có liền một lúc hai phim được đề cử tranh giải. Cả hai phim – Thiên Mệnh Anh Hùng và Scandal – đều là những phim được đánh giá tốt khi công chiếu. Đặc biệt là Scandal, hiện tượng điện ảnh của năm khi đã làm thỏa mãn cả khán giả lẫn báo giới vì đã gãi đúng chỗ ngứa của ngành showbiz. Tuy Scandal vẫn hơi lê thê ở đoạn giữa, và Thiên Mệnh Anh Hùng còn đơn giản trong tình tiết, thì với mặt bằng chung năm nay, nếu hai phim này không có giải thì thật là chuyện lạ.

Năm 2012, theo thống kê có gần 20 phim Việt Nam, nhưng cuối cùng Cánh Diều chỉ quy tụ được 11. Điều này khiến nhiều nhà báo phẫn nộ như thể đấy là lỗi của Ban Tổ Chức. Nhưng kỳ thật, việc nhà sản xuất của các bộ phim như Nàng Men Chàng Bóng không gửi phim tranh giải lại chứng tỏ rằng họ đang rất thành thật với chính mình. Họ không làm phim để tham dự giải, và sẵn sàng thừa nhận phim của mình chỉ là những phim giải trí xem rồi lại quên. Họ thà làm chân tiểu nhân, còn hơn là ngụy quân tử như vài phim đã được nêu tên ở trên. Điều đó hẳn nhiên là đáng được tôn trọng. Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến về việc tại sao không có phim Chạm (đạo diễn Nguyễn Đức Minh), thì cũng xin thưa luôn rằng Chạm là phim được sản xuất tại Mỹ, là phim nước ngoài nên đương nhiên là không thể tranh giải Cánh Diều. Hơn nữa, theo điều lệ giải thì ngay cả phim do một hãng phim Việt Nam sản xuất mà không có ai trong đoàn làm phim là Hội viên Hội Điện Ảnh thì cũng năm ngoài cuộc chơi. Điều này cũng là dễ hiểu vì Cánh Diều vẫn là một giải thưởng của Hội Điện Ảnh. Ngoài ra thì Cánh Diều cũng chỉ trao cho người Việt Nam hoặc người có quốc tịch Việt Nam, nên dù cho phần dựng phim, biên tập âm thanh và âm nhạc của Dành Cho Tháng Sáu được đánh giá rất cao, thì với việc phần hậu kỳ của phim hoàn toàn do ê kíp Pháp thực hiện, chắc chắn Dành Cho Tháng Sáu cũng không được tham gia các giải cá nhân này.

Nhưng dù có còn nhiều bất cập, giải Cánh Diều vẫn rất xứng đáng được hoan nghênh vì là dịp duy nhất làng phim Việt Nam có dịp góp mặt đầy đủ và những nghệ sĩ đã cống hiến cho lao động nghệ thuật sẽ được tôn vinh. Nếu ai chưa được giải năm nay, xin chúc họ sẽ tiếp tục góp mặt và sẽ gặt hái được thành công trong những kỳ sau. Càng có nhiều phim Việt Nam hay thì giải Cánh Diều sẽ càng chất lượng và có uy tín. Hi vọng một ngày không xa, nền điện ảnh Việt Nam sẽ vững vàng và Cánh Diều sẽ thực sự bay cao, bay tự tin giữa trời xanh.

Advertisements
 
Leave a comment

Posted by on 09/03/2013 in Features

 

From Up on Poppy Hill (2011) – Trên ngọn đồi hoa hồng anh…

Tựa gốc: Kokuriko-zaka kara (2011)
Đạo diễn: Goro Miyazaki
Diễn viên lồng tiếng: Masami Nagasawa, Junichi Okada

Chuyện kể rằng trong buổi trình chiếu của From Up on Poppy Hill tại liên hoan phim quốc tế Toronto, khi mới chỉ nhìn thấy logo của Ghibli Studio hiện lên, khán giả đã vỗ tay cuồng nhiệt. Đó quả là một cử chỉ khiến cho người làm phim cảm động, nhưng đồng thời cũng cho thấy áp lực mà những người kế thừa hãng phim hoạt hình nổi tiếng Nhật Bản phải đối mặt khi làm ra các tác phẩm mới…

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 06/08/2012 in Reviews

 

Tags: , , ,

Like Crazy (2011) – Sự điên rồ của tình yêu tuổi trẻ

Tựa gốc: Like Crazy (2011)
Đạo diễn: Drake Doremus
Diễn viên chính: Anton Yelchin, Felicity Jones, Jennifer Lawrence

Like Crazy thoạt tiên khiến cho người ta tưởng như chẳng có gì để bàn tới nhiều. Lại một câu chuyện về một chàng trai và một cô gái yêu nhau. Dễ dãi quá, có gì nồng nhiệt, say mê và dễ điên cuồng hơn tình yêu tuổi trẻ? Thế nhưng, chính bộ phim lấy đề tài đơn giản đó của đạo diễn Drake Doremus lại giành được giải thưởng của ban giám khảo tại liên hoan phim độc lập uy tín nhất thế giới: Sundance.

Read the rest of this entry »

 
Leave a comment

Posted by on 18/07/2012 in Reviews

 

Tags: , , , ,

Phỏng vấn độc quyền với đạo diễn Nguyễn Hữu Tuấn

Nguyễn Hữu Tuấn là ai? Phỏng vấn anh xong, tôi cũng biết anh là ai rồi đấy. Anh là đạo diễn gần đây được gắn với tên hot boy Huỳnh Anh. Nghe nói anh sắp tung một bộ phim rất hoành tráng ra rạp cuối tháng 5 này, tính tò mò thích hóng hớt với người nổi tiếng của tôi nổi lên. Vì thế, tôi vội vàng vẫy chuyến máy bay đầu tiên trong ngày ra Hà Nội. Lợi dụng mối quan hệ thân thiết với thần đồng phim Hàn Hisashi, tôi đã có một cuộc trò chuyện thân tình với Nguyễn Hữu Tuấn tại quán cà phê vỉa hè có phong cách decor lớp mẫu giáo trên con đường mang tiếng nữ tướng Nguyễn Thị Định. Cuộc nói chuyện diễn ra trong không khí gần gũi với tiếng buôn chuyện choen choét của những nhân vật hàng đầu ngành điện ảnh truyền hình Việt Nam (trừ chuyện trời có đổ mưa cái ào thì toàn cục nói chung là thành công rực rỡ).

Read the rest of this entry »

 
 

Tags: , ,

Nobody Knows (2004) – Chuyện không ai biết

Tựa gốcDare mo shiranai
Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Hirokazu Kore-eda
Diễn viên chính: Yûya Yagira, Ayu Kitaura, Hiei Kimura

Từ một sự kiện có thật về “bốn đứa trẻ bị bỏ rơi ở Sugamo” và suốt 15 năm kiên trì xây dựng kịch bản, đạo diễn Hirokazu Kore-eda đã cho ra mắt bộ phim Dare mo shiranai (Nobody knowsKhông ai hay biết). Bộ phim đã khẳng định cho tài năng của anh và cũng đã đã mang lại cho diễn viên nam chính Yûya Yagira giải Cành Cọ Vàng danh giá tại liên hoan phim Cannes năm 2004.

Dare mo shiranai mở ra khi bà mẹ trẻ đưa cậu con trai Akira 12 tuổi chuyển tới nơi ở mới, một căn hộ cho thuê chật hẹp. Tuy nhiên, chỉ trong ít phút sau, người xem nhận ra rằng gia đình này còn có thêm hai đứa trẻ khác chừng 4, 5 tuổi đang trốn trong va li và một cô con gái chừng 9, 10 tuổi đang chờ trời tối để được vào nhà. Và rồi, ngay trong bữa ăn tối, khi đồ đạc còn chưa được tháo dỡ, bà mẹ thông báo cho bốn đứa con rằng chúng sẽ không được la hét, nghịch ngợm, không được bước ra ngoài, trừ cậu con trai lớn phải lo việc đi chợ. Người mẹ dường như muốn giấu đi sự tồn tại của ba đứa con còn lại khỏi những người khác và chúng chấp nhận chuyện đó. Tuy nhiên, đó mới chỉ là bắt đầu của sự cay đắng. Bộ phim hé lộ dần cuộc sống của gia đình này, khi những đứa con chẳng có chung một người cha, khi chúng phải tự làm lấy mọi việc trong nhà và ngóng đợi mẹ trở về lúc đêm khuya, nhận ra ngay khi mẹ chúng say, khi cô từ chối cho chúng tới trường… Và rồi một ngày nọ, người mẹ mang hành lý ra đi, để lại cho bốn đứa con một chút tiền và lời hứa: mẹ sẽ quay về vào lễ Giáng Sinh, và từ đó cô chẳng bao giờ quay lại nữa.

Read the rest of this entry »

 
3 Comments

Posted by on 04/06/2011 in Reviews

 

Tags: , , ,

The Taste of Tea (2004) – Hương vị trà

Tựa gốc: Cha no Aji
Thể loại: Tâm lý / Hài hước
Đạo diễn: Katsuhito Ishii
Diễn viên chính: Maya Banno, Takahiro Sato, Tadanobu Asano

Đối với người Nhật Bản, tên tuổi của đạo diễn Katsuhito Ishii từ lâu gắn liền với những thước phim sôi động chuyển thể từ manga hiện đại cho dù đó là phim truyền hình hay điện ảnh. Tuy nhiên, với Cha no aji (Hương vị trà), bộ phim truyện nhựa thứ ba của anh, khán giả chợt kinh ngạc nhận ra rằng, người đạo diễn tài năng này còn có thể thực hiện xuất sắc một tác phẩm mang phong cách hoàn toàn khác, một phong cách đưa nước Nhật của đồng quê và thiên nhiên trở lại.

Bộ phim xoay quanh câu chuyện về gia đình Haruno sống trong một căn nhà cổ, ở một vùng nông thôn ngoại thành Tokyo, nơi mà vẻ đẹp thiên nhiên vẫn còn ngự trị. Read the rest of this entry »

 
1 Comment

Posted by on 20/05/2011 in Reviews

 

Tags: , ,

Phillip Noyce: Backroads to Hollywood (trích)

Lời tựa: Dưới đây là đoạn trích từ cuốn sách Backroad to Hollywood (tên gốc: Phillip Noyce: Backroads to Hollywood) do tôi (Moonie Mun) và một số bạn khác cùng dịch (trong đó có Quỳnh Hà). Sách sẽ được phát hành trong tháng 5. Phillip Noyce có thể không phải là một đạo diễn đi vào huyền thoại nước Mỹ, nhưng ở nước Úc quê hương, ông được coi như một niềm tự hào. Đoạn trích này nói về khoảng thời gian Noyce bắt đầu biết tới điện ảnh và quyết định trở thành một nhà làm phim. Tôi nghĩ rằng đoạn trích này sẽ giúp cho các bạn (đặc biệt là những bạn hiện đang làm phim ngắn) hình dung rõ hơn về con đường trở thành đạo diễn của một người hiện đã thành công, tất cả cũng bắt đầu từ số 0, trong một hoàn cảnh đất nước còn nhiều định kiến, rào cản không khác chúng ta lúc này là bao nhiêu. 

Trong đoạn trích sau, những đoạn bôi nghiêng là lời của tác giả cuốn sách – Ingo Petzke, còn các đoạn không bôi nghiêng là lời của Phillip Noyce.

Vào tháng Tám năm 1968, một vài tháng trước khi tôi tốt nghiệp trung học, tôi đánh bạo bước vào khu phố cổ từ khu ngoại thành trung lưu của mình ở Wahroonga. Tôi nhìn thấy một tấm áp phích trên cột điện thoại quảng cáo về những bộ phim “ngầm” của Mỹ. Có một hình vẽ màu xanh đẹp đẽ đầy mê hoặc trên tấm áp phích mà sau này tôi phát hiện ra là được thiết kế bởi một nhà làm phim người Úc tên là David Perry. Từ “ngầm” khơi gợi lên tất cả niềm hứng thú của một cậu bé mười tám tuổi cuối thập niên sáu mươi: trong một thời đại mà cứ bị kiểm duyệt thì hứa hẹn sẽ có cảnh khêu gợi, có lẽ vậy; một thời đại mà nơi cấm ma túy thì hứa hẹn sẽ có thể kiếm được marijuana, hay thậm chí những thứ nặng đô hơn; trong một thời đại mà sự đối đầu giữa các phụ huynh bảo thủ và những đứa con chịu ảnh hưởng của bùng nổ dân số hậu chiến đang diễn ra, nó hứa hẹn một nơi mà bất kỳ ai cũng có thể sánh vai với những người đồng chí hướng và âm mưu ngầm phá những thiết chế xã hội, điều mà có vẻ như là mục đích sống của tất cả những người dưới 30 tuổi thời đó.

Cha mẹ tôi lớn lên trong thời kỳ suy thoái kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai và điều mà thế hệ họ muốn là mua được một căn nhà, có ba đứa con và sống thật tĩnh lặng. Và vì thế điều mà tất cả con cái của họ muốn là không sống trong một căn nhà vùng ngoại ô, không sống tĩnh lặng. Những giá trị thủ cựu đó phải được hoàn toàn loại bỏ.

“[Vì vậy] vào đầu tháng Chín năm 1968, tôi tham gia vào một nhóm chen chúc ở Union Theatre và ở đó tôi xem mười bảy bộ phim ngắn được Ubu sưu tập. Chính vào đêm đó tôi cho rằng toàn bộ thái độ của tôi về nghệ thuật, toàn bộ thái độ của tôi về điện ảnh – trên thực tế là toàn bộ cuộc đời tôi – đã thay đổi.

Tôi tới đấy để hóng chút giật gân, xem mười bảy bộ phim và rồi sau đó lắng nghe mấy người quảng cáo trong phòng giải lao. Tôi đã rời khỏi rạp chiếu trong đêm đó với suy nghĩ, “Mình sẽ làm phim như vậy. Mình có thể làm được.” Đây dường như là phong cách mà điện ảnh nói với tôi. Đó là sự tức thời, trực tiếp, cá nhân và phi thương mại. Nó được nhắm tới sự bộc lộ cá nhân, không phải lợi nhuận, nó riêng tư, trái ngược lại với tính tập thể, nó là sự tự do đầy phong cách, nó dường như chỉ yêu cầu một chút ít kinh phí, sự cách tân làm chìa khóa chủ đạo. Đó hoàn toàn là thứ mỹ thuật phi-Hollywood; nó được khởi động trên một tầng bậc đầy bản năng mà thường là cốt truyện phi tuyến tính và na ná với những hình ảnh gây ra ảo giác vốn đang là mốt thời đấy – cho dù đó là âm nhạc, nghệ thuật hay trong những họa tiết trên tấm áo sặc sỡ của bạn. Những bộ phim đó đã nói với tôi như vậy.

Khái niệm “phim ngầm” được lấy từ một bài trên tạp chí Time xuất bản năm 1968 có tiêu đề “Đi lên từ Ngầm”. Đây là một phong trào chống lại Hollywood dựa trên việc phát minh ra máy quay dễ di chuyển, thứ có thể cầm trên tay, ngược lại với loại máy móc cồng kềnh cần thiết cho phim Hollywood, và đồng thời dựa trên nguồn cung cấp phim rất nhạy sáng như phim Kodak 4x, thứ loại bỏ được những dụng cụ chiếu sáng đắt đỏ.

Riêng ở Mỹ, một nhóm các nhà làm phim tập hợp lại trong những năm 1950 và thành công vượt bậc vào thập kỷ 1960, những người không làm phim để cung cấp cho mạng lưới phát hành, mà chỉ để bộc lộ quan điểm cá nhân. Và họ thành lập nên một hiệp hội để phát hành loại phim này. Ở New Yorks, Jonas Mekas, người làm phim The Brig, và anh trai ông, Adolphus Mekas, đã khởi đầu cho Hiệp hội các nhà làm phim New York, và rồi có một hiệp hội ở San Francisco, Hiệp hội Các nhà làm phim Canyon.

Điều tôi thấy là một nhóm các phim thường được làm mà chẳng tốn kém gì mấy. Tôi nghĩ bộ phim rẻ nhất chỉ mất 10 đô la. Không bộ phim nào có yếu tố khiến bạn liên tưởng tới những tiêu chuẩn sản xuất của Hollywood. Nhưng, chúng cũng không phải là sản phẩm của mấy nhà sản xuất xúc xích ở Los Angeles làm lấy được để cung cấp cho những cái miệng đói ăn trên khắp thế giới.

Từ rạp chiếu phim chật như nêm này tôi nhận ra rằng Ubu Films đang quảng cáo một thể loại phim nào đó với thế giới văn hóa hạ cấp của đám người mang cái vẻ nghệ sĩ giả cầy huênh hoang. Có vẻ như bạn có thể móc hầu bao bất cứ ai cho những trò giải trí vô lối, miễn là bạn quảng cáo nó đúng cách.

“… Tôi tới Union Theatre nhiều đêm sau đó, thu gom nhiều tài liệu, tờ rơi và bài báo, cũng như những thứ rơi rớt khác của những gã từ Ubu. Và tôi phát hiện ra rằng tia sáng dẫn đường trong Ubu Film, có vẻ như là ba người – Aggy Read, Albie Thoms và David Perry… [Họ] đều có ria mép và… có vẻ như tới từ tầng hầm của một căn thuộc dãy nhà liên kế ở Redfern. Xem tất cả những bộ phim ấy trong đêm đó, thu nhận được tất cả những thông tin, tôi đã ngay lập tức bị ba nỗi khao khát mạnh mẽ tóm lấy. Trước hết, tôi muốn có ria mép; thứ hai, tôi muốn sống trong một căn nhà liên kế trong nội thành thành phố, và thứ ba, tôi muốn trở thành một nhà làm phim.”

Với lòng quyết tâm rất đặc trưng của Noyce, sau khoảng khắc khai sáng đó, ông ngay lập tức liên hệ với “những anh chàng ở Ubu”, những bậc thầy được biết tới trong thế giới phim ngầm ở Úc. Thoms nhớ lại: “Anh ấy tới văn phòng của chúng tôi ở Redfern để sắp xếp một buổi chiếu các bộ phim của tôi ở trường Barker của anh ấy. Tôi nhớ rằng anh ấy bước vào trong văn phòng với bộ đồng phục và va đầu chỗ cầu thang bởi chiều cao quá khổ của mình, đánh rơi cả cái mũ rơm. Đáng chú ý là buổi chiếu phim đó là để gây quỹ cho một trường mẫu giáo dành cho thổ dân, và rằng trường của anh ấy sẽ kiểm duyệt vài bộ phim.” Noyce từ đó thường xuyên tham dự các buổi họp mặt hàng tuần được tổ chức bởi các nhà làm phim trẻ.

Tôi nhận ra có rất nhiều người giống mình, muốn được làm phim ngắn, để thể hiện bản thân, nhưng đồng thời cũng là một kiểu của dân tộc chủ nghĩa. Chúng tôi muốn ghi lại hình ảnh của chính đời sống mình, hình ảnh nước Úc. Chúng tôi muốn làm phim Úc. Aggy, Albie và David khuyến khích tất cả mọi người hãy đi và làm một bộ phim cho chính mình.

Năm tháng sau đó, trong những ngày nghỉ sau tốt nghiệp cấp ba và chuẩn bị vào đại học, tôi nhận được công việc đào cống rãnh cho Water Board ở Sydney. Công việc này giúp tôi dành dụm một khoản tiền để làm phim ngắn. Trong những ngày nghỉ, tôi đã tới xem những buổi chiếu phim khác và gần như đã bắt đầu làm việc với những anh chàng đó. Họ cũng có một công ty chuyên tổ chức các buổi trình diễn với ánh sáng.

Họ đã bắt đầu cho in một tờ báo kiểu văn hóa lập dị gọi là Ubu News. Một cách khác để tôi kiếm được tiền cho bộ phim đầu tay là đi bán tờ báo đó, và tôi gần như là người bán báo Ubu News đắt hàng nhất. Trên thực tế, tôi đã bị bắt vì bán tờ báo này. Trong một số báo có mục quảng cáo cho quần jean Levi’s, có hình một gã đang cố gắng úp cái quần lên đầu, vì thế dương vật của anh ta cứ thế phô ra, chuyện này đã bị cảnh sát kết tội là khiêu dâm. Tôi đã bị kết án là có tội và hưởng án treo, trong vòng một năm hay sao đó, vì đã xuất bản những ấn phẩm không đứng đắn. Trong lời buộc tội trình lên quan tòa, người khởi tố thậm chí còn đề cập tới Bài thuốc của Phil.

Đó là tên tờ báo của riêng tôi. Trong vòng vài tháng, tôi đã đến nói chuyện ở Domain. Domain giống như Speaker’s Corner ở Luân Đôn. Vào mỗi Chủ nhật, một số lượng lớn người diễn thuyết sẽ tới khu vực trước Khu trưng bày Nghệ thuật của New South Wales, xếp hộp hoặc bậc thang rồi cứ đứng đó nói về bất cứ chủ đề nào mình thích. Đó thật là một cách giải trí tuyệt vời vào chiều Chủ nhật khi tới đó và tranh cãi với họ. Có một gã tên là Webster, khá nổi tiếng vì có tài kể chuyện; gã cũng bán một tờ báo vào mỗi chủ nhật. Tôi thấy gã bán được bao nhiêu là báo, và nghĩ, “Chà, đây là một ý tưởng hay. Mình sẽ có tờ báo của riêng mình.” Vì thế tôi bắt đầu xuất bản Bài thuốc của Phil. Bạn sẽ phải diễn thuyết vài giờ đồng hồ, nhưng điều bạn thực sự muốn là bán báo của mình. Và bạn có thể bán được 500 tờ. Quả là một vụ làm ăn béo bở. Vì thế, vào mỗi Chủ nhật trong vòng vài ba tháng, chúng tôi đã làm vậy.

Tôi nhận ra rằng những người tới những chỗ như vậy cũng muốn được giải trí. Chủ nhật tiếp theo tôi quay lại và nhận thấy mọi người đang ngồi ở chỗ tôi đã diễn thuyết hôm trước và đợi tôi. Tôi nghĩ, “Hay thật! Nói gì người ta cũng nghe.” Về cơ bản, thứ lý thuyết mà tôi hô hào có một phần là niềm đam mê thực sự – như là tuyên bố chống lại cảnh sát và chống lại kiểm duyệt – và một phần được bịa ra để gây ấn tượng và tạo sự khó chịu trong công chúng. Đó là cách để bạn bán báo. Nếu bạn có thể làm cho khán giả bức xúc, thì tranh cãi sẽ được tiếp tục và đồng thời kéo dài thêm được chừng nửa giờ cho “đồng bọn” bán thêm được một ít báo. Ví dụ, một mánh mà tôi thấy rất có ích cho việc làm ăn là tôi ủng hộ rằng bất cứ những ai hơn 60 tuổi mà không làm được gì nữa thì nên bị xử tử. Tất nhiên, tất cả những người già đồng loạt đứng dậy gào thét, la ó. Thế là chúng tôi bán được nhiều báo hơn.

Sau đó, tôi buộc phải từ bỏ bởi cảnh sát tới bắt tôi sau khi tôi xuất bản những bài thơ khiêu dâm mà tôi lấy từ Tuyển tập các bài thơ khiêu dâm của Penguin. Tôi đã được nghe từ một chương trình phát thanh nào đó rằng vài bậc phụ huynh than phiền về tờ báo của tôi, thứ mà con cái của họ đã mua. Tôi biết thời của mình đã hết khi tôi nghe chuyện này. Vì thế, ngày Chủ nhật tiếp theo tôi không tới và đúng như dự đoán, cảnh sát đã bao vây ở đó. Tuy nhiên, tôi vẫn xoay xở xuất bản thêm được sáu hay tám số, cũng như tránh bị bắt thêm lần nữa.

Ở đây, Noyce đề cập tới lần bị bắt đầu tiên vào Tháng Mười một năm 1969 vì tội “bán “văn hóa phẩm đồi trụy” (một bản Ubu News số 12) ở một ga tàu trong nội thành như ghi chép của Mudie. Tuy nhiên, theo lời Noyce, nó xảy ra bên ngoài một phòng khiêu vũ ở ngoại thành.

Ông đã bị kết tội và được tha vì cư xử tốt mà không bị ghi vào sổ tiền án.

Trong khoảng thời gian chưa làm gì tôi tới chỗ vài người bạn và nói rằng nếu họ đầu tư vào phim của tôi thì họ sẽ có một vai trong đó. Thật không may, gã bạn có bố là một bác sĩ giàu có – lại là diễn viên dở tệ nhất mà người ta từng đặt trước máy quay. Nhưng hắn đã đầu tư 400 đô-la, và vì thế tôi phải cho hắn làm diễn viên chính. Lạ là, hắn có tên là David Frost, nhưng chẳng có liên quan gì tới David Frost, phóng viên phỏng vấn kiêm dẫn chương trình người Anh. Tên của bộ phim là Better to Reign in Hell (Thà làm vua địa ngục), được lấy ra từ Paradise Lost (Thà làm vua địa ngục còn hơn làm đầy tớ chốn thiên đàng). Về cơ bản, bộ phim là câu chuyện của một anh chàng bị ám ảnh bởi cô gái mà anh ta thấy đi thấy lại trong các quảng cáo và trong những giấc mơ hoang đường của anh về cô ta, thứ mà có thể hoặc không thể hình dung lại được. Đó là một bộ phim lấy cảm hứng chủ yếu từ kỹ thuật hình ảnh, dàn dựng và tự sự trong những bộ phim ngầm mà tôi đã xem ở các buổi chiếu của Ubu.

Tôi đã quyết định rằng tôi không thể kiêm quay phim vì tôi không biết cách sử dụng máy quay. (Về sau tôi nhận thấy chẳng có gì phức tạp lắm để điều khiển máy quay và tráng phim) Tôi thuê David Perry, người đã chụp ảnh cho nhiều bộ phim của Albie Thoms làm người quay phim của mình và trả cho anh ta 25 đô-la một ngày cho ba ngày quay. Tôi cũng thuê Clemency Weight, người đã xuất hiện trong phim của Albie Thoms, để đóng vai người phụ nữ ám ảnh nhân vật chính và để cô ta khỏa thân chạy dọc bờ biển.

Bộ phim đó tốn khoảng 600 đô-la và được quay bằng phim 16 li đen trắng.


 
Leave a comment

Posted by on 05/05/2011 in Directors, People

 

Tags: ,

 
%d bloggers like this: