RSS

Author Archives: Moonie Mun

Mỏ vàng của Hollywood

Ngày xửa ngày xưa…

Ernest Hemingway từng có một châm ngôn khi bàn về cách ứng xử với Hollywood: hãy lái xe tới ranh giới với California và quăng cuốn sách của bạn qua hàng rào. Khi nhà sản xuất tung tiền lại cho bạn, hãy chộp lấy và phóng đi ngay lập tức. Đó là quan điểm đầy hoài nghi của một tác giả chưa từng thấy tác phẩm chuyển thể từ sách nào của mình gặt hái thành công (ngoại trừ truyện ngắn The Killers). Nhưng đồng thời, nó cũng minh họa cho một thực tế khác: các nhà sản xuất ở Hollywood đã cộng tác với các nhà xuất bản, đại diện và các tác giả lâu tới nỗi không ai còn buồn nhớ tới nữa rồi!

Thực sự, nếu coi bộ phim Alice in Wonderland của Cecil Hepworth và Percy Stow vào năm 1903 là một ví dụ đáng xem xét, thì việc chuyển thể từ sách thành phim đã có tuổi đời ngang bằng ngành điện ảnh. Nhìn vào danh sách những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại, thì 9 trong số 20 phim đứng đầu (nhờ J.K. Rowling và J.R.R. Tolkien) là dựa theo các cuốn sách. Mà đó là còn chưa kể tới những The Dark Knight hay Spider-Man 3, vốn dựa trên những nhân vật lấy từ truyện tranh.

Alice in Wonderland 2010 của Tim Burton

Vậy tại sao Hollywood luôn tìm tới văn chương? “Câu trả lời ngắn gọn là, vẫn còn nhiều sách quanh đây lắm”, tổng biên tập của tờ The Book Seller Neill Denny nói. “Chỉ riêng ở London, hơn 100,000 cuốn sách vẫn được xuất bản hàng năm. Vì vậy nếu bạn tính thêm ở New York, trung tâm xuất bản lớn nhất của Mỹ, bạn có thể thấy tới 300,000 tác phẩm mới được ra mắt mỗi năm. Vậy thì với quy luật trung bình, bạn sẽ tạo ra được bốn hay năm bộ phim bom tấn một năm từ kho sách đó mà chẳng phải đổ chút mồ hôi nào.

Số lượng xuất bản đó hẳn là một mỏ vàng thực sự cho các hãng phim Hollywood. Bởi, “Mọi thứ đang trở nên càng lúc càng chông chênh mạo hiểm, vậy nên chuyển thể một cuốn sách là một phương án an toàn,” nhà sản xuất Ken Marshall, người hiện đang thực hiện dự án chuyển thể cuốn tiểu thuyết Filth của Irvine Welsh nói. “Nhưng bạn không thể cứ thế chọn một kịch bản vô danh nào đó, bỏ hàng triệu đô-la vào nó và chờ xem có hiệu quả không,” giám đốc nội dung của nhà xuất bản Viking, ông Joel Rickett bổ sung. Một cuốn sách nổi tiếng lại hoàn toàn khác. “Nó đã có sẵn thành công rồi,” ông nói. “Nó đã có sẵn một lượng khán giả. Nó đã chứng minh được khả năng thu hút đám đông.

Muôn ngả rẽ gian nan…

Nhưng đó không phải là một lộ trình tự động tới thành công – với lực lượng fan thường điên cuồng bảo vệ những bộ sách họ yêu thích. Hãy cứ hỏi Robert Pattinson của Twilight mà xem. Khi một diễn viên gần như vô danh được chọn đóng Edward Cullen, các fan đã gửi đi cả thuyền thư phản đối. Nhưng điều này cũng chẳng có gì mới mẻ. Khi diễn viên người Anh Vivien Leigh được chọn đóng vai Scarlett O’Hara trong Gone with the Wind, nhà báo chuyên mục hậu trường Hedda Hopper từng bừng bừng thịnh nộ: “Cả triệu phụ nữ Mỹ ở đây mà [nhà sản xuất David O.] Selznick không thể tìm thấy ai vừa ý ông ấy sao?

Gone with the Wind (1939)

Thậm chí, một nhà văn cũng có có thể tham gia vào quá trình làm phim. Ban đầu, Anne Rice từng chọn River Phoenix đóng vai Lestat cho bộ phim chuyển thể Interview with the Vampire của Neil Jordan. Tuy nhiên, Phoenix đã qua đời 4 tuần trước khi phim khởi quay, để lại vai diễn này cho tài tử Tom Cruise. Việc lựa chọn diễn viên sai có thể hủy hoại bất cứ bộ phim nào, nhưng đặc biệt là với những bộ phim chuyển thể. Bởi các độc giả thường đã mang sẵn những ý tưởng cụ thể về chuyện ai nên đóng nhân vật văn học mà họ yêu thích. Hãy lấy ví dụ bộ phim dựa trên tiểu thuyết của Phillip Roth có tên The Human Stain của Robert Benton năm 2003. Với câu chuyện tình ái giữa một giáo sư có nguồn gốc nửa Do Thái, nửa Mỹ gốc Phi, sở hữu một màu da sáng, đã luống tuổi với một nữ phục vụ mù chữ luộm thuộm. Vậy điều gì đã khiến họ chọn Anthony Hopkins và Nicole Kidman? Chẳng cần phải nói thêm, các nhà phê bình đã lột da sống bộ phim đó!

Rồi lại có một số bộ phim chuyển thể gặp vấn đề bởi ngôn ngữ văn chương của tác giả không thể nào chuyền tải vào phim. Phiên bản The Bonfire of Vanities từ tác phẩm của Tom Wolfe nhằm vẽ nên chân dung trào phúng về nền chính trị tại New York năm 1990 do Brian De Palma thực hiện là một khẩu súng tịt ngòi khủng khiếp, khi kịch bản đã hoàn toàn bế tắc trong việc chuyển tải lại được giọng điệu hoang dã của Wolfe. Tương tự, bất cứ tác phẩm điện ảnh nào chuyển thể từ tiểu thuyết của Martin Amis – The Rachel Papers, Dead BabiesMoneyđều thất bại trong việc mô tả lại những luồng suy nghĩ chồng chéo và những lời văn ngoài mạch truyện của tác giả. Thậm chí, cả những đạo diễn đình đám như David Cronenberg hay Michael Winterbottom đều buộc phải thừa nhận là chịu bó tay trong việc chuyển thể tác phẩm thành công nhất của Amis, London Fields.

On the Road cuối cùng cũng "lên đường"

Điều này dẫn tới một vấn đề khác được gọi là những tiểu thuyết ‘không thể chuyển thành phim’. Chẳng hạn như On the Road của Jack Kerouac. Với sự thật là cuốn kinh thánh của thế hệ Beat được viết ra chỉ trong ba tuần thỉ quả là mỉa mai khi người ta phải mất tới 30 năm để đưa nó lên màn ảnh rộng. Sau khi Francis Ford Coppola mua bản quyền cuốn sách vào năm 1979, hàng loạt nhà biên kịch – Michael Herr, Barry Gifford, Russell Banks và thậm chí bản thân Coppola – đều đã thử và thất bại trong việc chuyển thể nó. Như Banks mô tả, chuyển tải toàn bộ câu chuyện hậu chiến tranh thế giới thứ II của Kerouac như đánh lừa khán giả hiện đại. “Anh sẽ chẳng bao giờ có được sự trong sáng mà On the Road đã mô tả.

Chỉ cho tới nay, với Walter Salles đứng ra đạo diễn cùng một dàn diễn viên bao gồm Kirsten Dunst, Viggo Mortensen, Amy Adams, Kristen Stewart… thì On the Road mới thực sự “lên đường”. Tất nhiên, việc chinh phục một cuốn tiểu thuyết không thể quay thành phim là một phần quyến rũ của công việc. Lý An hiện đang làm việc với cuốn Life of Pi của Yann Martel, câu chuyện về cậu con trai của một chủ sở thú bị kẹt lại trên thuyền với một con hổ. Đạo diễn của Amélia, Jean-Pierre Jeunet từng bỏ ra nhiều năm cho dự án này trước khi từ bỏ. “Bộ phim này là một cơn ác mộng về kỹ thuật. Tất cả các cảnh quay đều cần tới kỹ xảo. Có con hổ, đứa trẻ, đại dương – ba yếu tố kinh khủng nhất cho một bộ phim!” Ông không dành nhiều hi vọng lắm cho Lý An… “Tôi nghĩ trong mười năm nữa chúng ta sẽ tiếp tục nói về dự án này.

“Chỉ có thắng mà thôi”…

Khi các dự án chuyển thể gặt hái được thành quả, tiếng tăm sẽ vang lừng – đặc biệt với Viện hàn lâm, những người có vẻ như khá ưu ái các bộ phim chuyển thể từ các tác phẩm văn học. Hơn hai thập kỷ qua, 10 trong số 20 bộ phim đoạt giải Oscar cho hạng mục Phim truyện xuất sắc nhất đều có nguồn gốc từ những cuốn sách đã được xuất bản. Đến mức mà lúc này, mọi người có vẻ như quá hăm hở khi đi kiếm tìm một món hời từ văn chương. Nếu như may mắn chọn được một cuốn sách nằm trong danh sách bán chạy nhất, đó là một lợi thế lớn lao khi bước vào quá trình thực hiện, không chỉ ở chuyện kiếm được kinh phí, mà cả ở khâu tuyển chọn diễn viên và cuối cùng là giới thiệu và quảng bá cho nó.

Điều đó giải thích cho việc tại sao quyền làm phim của nhiều cuốn sách đã được chộp lấy theo lối ‘bắt từ trứng nước’, tức là từ trước khi chúng thậm chí được xuất bản. Hầu hết việc thỏa thuận được thực hiện tại các hội chợ sách – London, Frankfurt và New York. Những người tìm kiếm của các hãng và các nhà sản xuất phim độc lập đều giữ kín những sự kiện này, “để tìm kiếm ý tưởng và tóm lấy chúng ngay”, như Denny nhận định. Rồi lại có đại diện cho các tác giả, những người thường tìm cách bán đi quyền làm phim từ sách mà khách hàng của họ viết. Như Denny giải thích, “Lĩnh vực điện ảnh ăn theo lĩnh vực văn chương là một điều quá rõ ràng.

The Girl with Dragon Tattoo (2009)

Những ký kết trước khi thông qua hãng phim này đã phần nào khiến cho ngày càng nhiều các nhà sản xuất tại Hollywood không thể có được thỏa thuận phát triển với các hãng phim, không còn được lựa chọn mọi thứ theo ý riêng của họ nữa. Trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay, các hãng phim càng trở nên thận trọng. Theo như dữ liệu của của Publishers Marketplace, 205 hợp đồng chuyển thể tại Hollywood đã được ký từ ngày 1/6/2008 tới 1/6/2009. Nhưng con số đó giảm xuống còn có 190 trong cùng khoảng thời gian từ 2009 tới 2010, với sự sụt giảm lớn nhất đối với riêng dòng sách cao cấp. Thực sự là, phải có một có hit tầm cỡ toàn cầu như bộ ba Millenium của Stieg Larsson mới dụ được Columbia Pictures bỏ tiền ra để làm lại bộ phim dựa theo cuốn sách đầu tiên trong series, The Girl with the Dragon Tattoo.

Tất nhiên, đối với các nhà xuất bản, đó là một “tình huống chỉ có thắng mà thôi”, Rickett nói. Ngày nay, các nhà xuất bản thậm chí còn tìm kiếm sự hợp tác trực tiếp với các nhà làm phim. Trong năm 2005, Random House kết hợp với Focus Features để đồng sản xuất hai trong số ba bộ phim trong năm dựa theo các tác phẩm chưa xuất bản của họ. “Đó thực sự là một kiểu làm việc thú vị,” Rickett phát biểu. “Nhưng tôi nghĩ điều khó khăn là, phim thì quá thiếu sự liên tục, đầy ngẫu nhiên và hay thay đổi tới nỗi việc tạo ra được một cấu trúc cố định cho nó là quá khó. Bạn không thể cứ thế ép khuôn nó theo lối đó. Bạn không thể nói, ‘Vâng, chúng tôi sẽ có ba cuốn sách một năm.’ Bạn có thể sẽ không có được ba cuốn sách như bạn muốn.

Vậy chuyện gì đang chờ đợi những cuốn sách trên màn ảnh? Có lẽ cái thời mà những cuốn tiểu thuyết lừng danh gây nên cuộc chiến đấu giá giữa các hãng phim đã qua, nhưng với sự xuất hiện của Harry PotterTwilight, lãnh đạo của các hãng đại diện cho tác giả và các hãng phim giờ đã quay về phía các đám khán giả dưới 18 tuổi. “Sách dành cho tuổi teen quả thực đã rất phát triển trong các năm gần đây,” Denny nhận định. Sản phẩm cho tuổi mới lớn – thường dựa trên thực tế nhưng đi kèm với những khía cạnh siêu nhiên – giờ đã bùng nổ. Hãy thử nhìn vào I Am Number Four – bộ phim của D.J Caruso dựa theo tiểu thuyết của Pittacus Lore (bút danh của James Frey và Jobie Hughes) do Alex Pettyfer đóng vai một người ngoài hành tinh ngụy trang dưới vẻ ngoài của một nam sinh trung học. Cũng có khả năng Warner Bros. sẽ đưa loạt truyện Septimus Heap của Angie Sage lên màn ảnh. Bởi vì trong một thế giới chao đảo như lúc này, điều mà các hãng phim cần là một loạt phim nào đó tương tự như Harry Potter

Theo James Mottram – Tạp chí Total Film số 4/2011

Advertisements
 
Leave a comment

Posted by on 01/05/2011 in Features

 

Tags:

Rừng Nauy (2010) – Kể chuyện Murakami kiểu Trần Anh Hùng

Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Trần Anh Hùng
Diễn viên: Rinko Kikuchi, Kenichi Matsuyama, Kiko Mizuhara

Thật khó để viết về phim Rừng Nauy mà không so sánh với cuốn sách gốc cùng tên của Murakami Haruki – một tác phẩm không chỉ là cuốn sách cuộc đời của hàng chục triệu người Nhật Bản mà còn chia sẻ với trái tim thương tổn của rất nhiều người trẻ tuổi trên khắp thế giới. Sau khi ra mắt ở Venice, rất nhiều nhà phê bình đã khen ngợi bộ phim này, nhưng đồng thời cũng có những người so sánh bộ phim với cuốn sách và coi rằng đây là một sự thất bại. Vậy Rừng Nauy của Trần Anh Hùng có thực sự là nỗi thất vọng so với cuốn sách? Câu trả lời chắc chắn là không!


Trong một lần trả lời phỏng vấn, Trần Anh Hùng chia sẻ rằng Murakami đã để lại một lời nhắn cho anh trên kịch bản: “Hãy cứ làm bộ phim như anh tưởng tượng. Việc anh phải thực hiện là tạo ra một bộ phim đẹp nhất có thể.” Và đây là điều mà Trần Anh Hùng đã thực sự làm được cùng với các đồng nghiệp của mình: tạo ra được một bộ phim Rừng Nauy với nỗi buồn và cái đẹp – một bộ phim vừa thể hiện được ý tưởng của cuốn sách, vừa rất đặc trưng cho phong cách của anh.

Bộ phim giữ lại câu chuyện như trong tác phẩm văn học: Sau cái chết của người bạn thân, Toru rời khỏi quê nhà lên Tokyo, nơi anh gặp lại và đem lòng yêu đơn phương Naoko – người yêu của cậu bạn đã qua đời. Sau một đêm đón nhận Toru, Naoko đột ngột bỏ đi không một lời giải thích. Giữa lúc chìm ngập trong hàng ngàn câu hỏi, Toru gặp được Midori – cô gái tràn đầy sức sống, lòng lạc quan và khao khát. Cuộc sống của Toru từ đó chia thành hai nửa, một bên là Naoko chia sẻ cùng anh nỗi đau của tâm hồn, một bên là Midori với tình yêu sống động. Tuy nhiên, thế giới thực sự của Toru vẫn là sự chênh vênh của tuổi trẻ, với nỗi băn khoăn đi tìm lời đáp cho câu hỏi, “tôi đang ở đâu?”

Dù nằm trong tầm ngắm của nhiều đạo diễn, nhưng dễ thấy rằng Rừng Nauy không phải là một tác phẩm văn học dễ dựng thành phim bởi yếu tố tâm lý đậm đặc, và sự xuất hiện liên tục của các bức thư. Việc phải viện tới lời kể chuyện trong phim gần như là một điều hiển nhiên bởi không dễ dàng gì (nếu không nói là bất khả) để miêu tả “chút khí vón lại” trong tâm tưởng Toru sau khi Kizuki chết, hay cảm giác về “nghi lễ hàn gắn tâm hồn bị tổn thương” của anh trong những lần đi dạo cùng Naoko… Tuy nhiên, Trần Anh Hùng đã biến điều này thành điểm mạnh của mình, bởi vì anh kết hợp những lời kể bằng cùng những cảnh quay ngắn, nối tiếp trong một cách chuyển động máy quay tạo cảm giác mượt mà như một dòng chảy; bản thân những hình ảnh ấy lột tả được phần nào đó tâm lý nhân vật. Ở điểm này, Rừng Nauy cho thấy sự nhất quán xuyên suốt trong cách kể chuyện qua nhiều phim của Trần Anh Hùng, đồng thời cũng gợi nhắc lại về phong cách làm phim tương tự trong bộ phim chuyển thể từ truyện của Murakami trước đây: Toni Tanitaki. Có lẽ các đạo diễn, bằng một cách nào đó, đều đi đến một quyết định chung trong việc sử dụng hình ảnh để miêu tả tâm lý nhân vật “kiểu Murakami”.

Ngoài ra, để miêu tả được tâm lý nhân vật sâu sắc hơn, Trần Anh Hùng còn chủ ý nhấn mạnh vào tính tương phản giữa cá nhân Toru và cuộc sống xung quanh anh. Trong khi Murakami chỉ miêu tả về đời sống nổi loạn của sinh viên trong bối cảnh chính trị biến động rất ngắn gọn và đôi chút mơ hồ, thì Trần Anh Hùng dành hẳn một cảnh quay dài để nói về điều này. Trong phim, Toru đã bước đi giữa hàng trăm sinh viên khác đang hô hào, vác gậy gộc hăm hở, ào ào đổ về từ tất cả các ngả đường, nhưng anh vẫn lẳng lặng bước đi với khuôn mặt buồn không đổi khác, vừa thờ ơ vừa lẩn tránh. Khuôn mặt ấy vẫn giữ nguyên khi những sinh viên khác chạy thẳng vào lớp bi kịch Hy Lạp của anh để đòi giáo sư cho phép thảo luận chính trị. Sự im lặng của anh biến anh thành người khác biệt trong cô độc. Có lẽ đây là cách để mô tả nỗi cô đơn của riêng điện ảnh, điều mà muốn miêu tả hết, nhà văn hẳn sẽ phải tốn thời gian viết lách hơn nhiều.

Và cũng nằm trong nỗ lực miêu tả lại được những nhân vật “kiểu Murakami” này, bộ phim đã tập hợp được những diễn viên trẻ tài năng của Nhật Bản trong đó nổi bật nhất là Rinko Kikuchi và Kenichi Matsuyama. Rinko Kikuchi không làm người xem thất vọng với khả năng lột tả lại được một Naoko đầy đau đớn, bế tắc mà vẫn dịu dàng xinh đẹp. Chẳng có gì ngạc nhiên khi cô là diễn viên nữ được quay đặc tả nhiều nhất bởi khả năng thể hiện cảm xúc của cô khiến cho khán giả không thể không day dứt cùng nhân vật. Toru, nhân vật trung tâm của bộ phim cũng được thể hiện xuất sắc qua diễn xuất của Kenichi Matsuyama. Anh đã để cho người xem thấy được hình ảnh của một thanh niên thập kỷ sáu mươi, với ánh mắt hoang mang, với sự mất mát của tâm hồn, nỗi cô đơn cá nhân giữa những sinh viên quá khích xung quanh mình, và nỗi đau đớn bật lên thành tiếng gào khi mất đi người mình yêu dấu. Ngoài ra, ấn tượng cũng đến từ diễn xuất của Eriko Hatsune trong vai Hatsumi. Dù trong phim nhân vật này chỉ xuất hiện rất ít, nhưng cô đã thực sự tỏa sáng trong những cảnh quay dành cho riêng mình với phong thái lịch thiệp, nhã nhặn, khuôn mặt và ánh mắt toát lên nỗi đau khổ và hạnh phúc đan lồng. Tuy vậy, có thể nhân vật Midori do nữ diễn viên trẻ Kiko Mizuhara đảm nhận sẽ không thực sự làm người hâm mộ cuốn sách của Murakami Haruki thỏa lòng. Mizuhara đã diễn tả được vẻ đẹp tươi trẻ, trái tim lưu giữ tình yêu trong sáng, thậm chí vẫn dùng ngôn ngữ đối thoại y hệt như tác phẩm văn học, nhưng cô vẫn là Midori của Trần Anh Hùng, với phong cách diễn xuất kìm nén có thể sẽ gợi cho bạn về các nhân vật nữ chính trong những bộ phim khác của anh hơn là nhân vật đầy sôi nổi của Murakami.

Dưới sự đạo diễn của Trần Anh Hùng, Rừng Nauy còn là một bộ phim đẹp. Thời gian trong bộ phim của anh kéo dài từ mùa xuân, qua mùa hè, tới mùa đông. Mùa xuân đến khi Naoko vẫn còn bên anh, và rồi mùa hè mang theo Midori, cho dù tất cả lại kết thúc trong mùa đông lạnh giá. Dù là ở mùa nào, thiên nhiên Nhật Bản trong Rừng Nauy vẫn hiện lên với vẻ thanh khiết, gợi cảm, kể cả khi bối cảnh được lựa chọn là những bờ biển hoang vắng, chỉ có đá và nước. Những cảnh quay đan cài về cánh đồng bát ngát, những ngọn cỏ run rẩy, tuyết trắng vừa tạo ấn tượng hình ảnh đẹp và trữ tình cho phim, vừa góp phần thể hiện cho những thế giới tinh thần của nhân vật. Bên cạnh đó, khi xem phim, khán giả còn có cơ hội chiêm ngưỡng những trang phục lịch thiệp, trang nhã vừa đặc trưng cho thập kỷ 60 của Nhật Bản, vừa vẫn rất hiện đại đủ để mang lại cho người xem cảm giác câu chuyện ấy như đang xảy ra đâu đây…

Với tất cả những nỗ lực vừa để bảo toàn, vừa để biến đổi khỏi tiểu thuyết gốc, Rừng Nauy của Trần Anh Hùng thực sự là một bộ phim không thể bỏ qua. Tuy nhiên, sau tất cả, bạn sẽ nhận ra rằng tác phẩm điện ảnh này, dường như cũng có một phần tính chất của tác phẩm văn học, nó rất hợp để bạn thưởng thức khi chỉ có một mình. Và rất có thể, khi nghe Naoko nói: “Con người ta chỉ nên quay đi quay lại giữa 18 và 19 tuổi… như thế mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn” hay khi bài hát Norwegian wood của The Beatles cất lên, bạn sẽ chợt nhận ra rằng mắt mình đã nhòa lệ, không phải vì Toru, Naoko, Reiko hay Hatsumi mà vì tâm hồn của chính bạn.

Bài viết trên tạp chí 2! Đẹp, số 1/2011

 
Leave a comment

Posted by on 29/04/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , ,

Rừng Nauy (2010) – Phép thử của Trần Anh Hùng


Năm 2008, giới truyền thông Nhật Bản như bùng nổ khi Haruki Murakami, nhà văn nổi tiếng hàng đầu của xứ sở này, người vốn rất khó tính và kín đáo, đồng ý cho phép chuyển thể cuốn sách gắn bó nhất với tên tuổi của ông Rừng Nauy thành phim truyện. Điều đáng kinh ngạc hơn là, trước đây Murakami đã nhiều lần khước từ lời đề nghị của nhiều đạo diễn Nhật Bản, nhưng sau đó ông đã chấp nhận Trần Anh Hùng cho bộ phim làm từ cuốn sách của mình.

Để chuyển thể một cuốn sách đã gắn bó với nhiều thế hệ người Nhật quả thực là một thử thách lớn, nhất là khi Trần Anh Hùng không nói ngôn ngữ của đất nước này. Trong một bài phỏng vấn với hãng thông tấn AP, Trần Anh Hùng nói rằng anh không biết tại sao Murakami đã chọn anh, ngoài chuyện nhà sản xuất của bộ phim cho biết nhà văn muốn một đạo diễn châu Á thực hiện tác phẩm Rừng Nauy. Anh còn cho biết thêm, Haruki Murakami không gặp anh lần nào trong suốt quá trình làm phim, nhưng ông để lại nhiều ghi chú trên kịch bản, và ở dòng cuối cùng ông ghi: “Hãy cứ làm bộ phim như anh tưởng tượng. Việc anh phải thực hiện là tạo ra một bộ phim đẹp nhất có thể.” Hẳn nhà văn cũng như hàng chục triệu độc giả tại Nhật Bản và nhiều quốc gia khác, đều mong đợi ở bộ phim của Trần Anh Hùng vẻ đẹp và nỗi buồn tới say đắm lòng người như cuốn sách đã mang lại.

Rừng Nauy kể lại câu chuyện của những người thanh niên Nhật Bản thập kỷ 60. Người bạn thân của Toru Watanabe, Kizuki, đột ngột tự tử khi đang ngồi trên ghế phổ thông, để lại cô bạn gái Naoko trong đau khổ. Và rồi sau đó, chính Toru đã rơi vào tình yêu say mê và vô vọng với Naoko – người đã sớm có sẵn trong mình nỗi tuyệt vọng với cuộc sống. Trong những ngày vô định đó, Midori bỗng xuất hiện trong cuộc đời anh, như một tia nắng đầy khao khát sống. Cuộc sống của Toru từ đó chia thành hai nửa, một nửa hướng tới Naoko u sầu và nơi cô đang chữa bệnh cùng với người bạn cùng phòng Reiko, một nửa dành cho Midori với cuộc sống sôi động, lạc quan và đầy bất ngờ. Tuy nhiên, ở giữa hai thế giới đó, Toru như vẫn đi giữa một khoảng mông lung vô hạn trong nỗi buồn và mất mát của tuổi trẻ… Bộ phim đã quy tụ nhiều diễn viên trẻ xuất sắc của Nhật Bản như Rinko Kikuchi (Naoko), Kenichi Matsuyama (Toru), Kiko Mizuhara (Midori)…

Ngay sau buổi ra mắt tại liên hoan phim quốc tế Venice, Rừng Nauy đã nhận được nhiều cây bút phê bình phim trên các tạp chí quan tâm. Nhà phê bình Deborah Young của tờ Hollywood Reporter ngợi ca rằng “chất thơ say đắm và những hình ảnh đầy mê hoặc của bộ phim đã đưa đạo diễn Trần Anh Hùng trở lại với những liên hoan phim, và chiếm một vị trí danh dự trong nghệ thuật điện ảnh.” Trên tờ Variety, nhà phê bình Justin Chang cũng cho rằng đạo diễn Trần Anh Hùng đã nỗ lực mạnh mẽ để “biến những gì thuộc văn xuôi trở nên đậm chất thơ, khắc họa những cung bậc cảm xúc của nhân vật, đặc biệt là nỗi đau buồn, chân thật nhất tới mức có thể. Những cảnh quay thoại được giản lược, lời nói được gửi đi như tiếng thì thầm, đầy do dự, với những khoảnh khắc im ắng, tĩnh lặng được luân chuyển sang những lời giải biện yếu ớt.”

Những lời ca ngợi càng nhiều hơn khi các tờ báo nói tới diễn xuất của bộ phim. Tờ New York Times nhận xét Trần Anh Hùng đã “chỉ đạo nhóm diễn viên tài năng của Nhật Bản một cách khéo léo và tinh tế.” Rinko Kikuchi, nữ diễn viên từng được đề cử Oscar, trong vai Naoko là điểm sáng trong nhiều bài phê bình. Justin Chang khen ngợi cô đã “thể hiện xuất sắc những bình diện cảm xúc khác nhau của một tâm hồn không yên ổn.” Tờ báo Movie Player của Ý cũng cho rằng sau đề cử Oscar, Rinko Kikuchi đã “chứng minh được rằng mình là một nữ diễn viên xuất chúng qua vai diễn Naoko với nỗi dày vò.” Trong khi đó, bạn diễn của cô, Kenichi Matsuyama trong vai Toru đầy phức tạp cũng được Justin Chang khẳng định rằng “đã thể hiện nên một nhân vật đầy bất mãn nhưng hết sức nhạy cảm.” Ngoài ra, Movie Player nhận xét anh đã thành công khi thể hiện được những xúc cảm trái ngược nhau, lúc hào hứng, sôi động, khi bất an, sâu sắc của nhân vật. Những diễn viên khác như Kiko Mizuhara (Midori), Eriko Hatsune (Hatsumi) cũng nhận được những nhận định tích cực. Nhà phê bình Justing Chang không tiếc lời ngợi ca sự xuất hiện tuyệt vời dù ngắn ngủi của Eriko Hatsune trong bộ phim. Trong khi đó, Kiko Mizuhara được Movie Player nhận xét là đã thể hiện nên được một Midori trong sáng và đầy thu hút.

Rừng Nauy đồng thời nhận được nhiều lời khen ngợi trong quay phim. Trên trang báo New York Times, nhà phê bình Roderick Conway Morris mô tả rằng trong Rừng Nauy, “những khung cảnh thiên nhiên qua nhiều mùa đã được thể hiện vô cùng diễm lệ, khi câu chuyện được liên tục biến chuyển từ hạnh phúc sang đớn đau”.

Thêm vào đó, một điểm chung trong tất cả những bài phê bình dành cho “Rừng Nauy” là những lời ca tụng về âm nhạc trong phim. Trên Hollywood reporter, Deborah Young viết: âm nhạc trong phim đã được “lựa chọn chính xác, không chút nhàm chán từ những giai điệu của thập kỉ 60.” Trang Film Starts của Đức khi bình luận về phần âm nhạc của bộ phim đã ưu ái nói rằng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu liên hoan phim Venice năm nay trao giải cho nhà soạn nhạc của Rừng Nauy (Jonny Greenwood). Ngoài ra, trên Variety, Justin Chang khẳng định âm nhạc trong phim thực sự đã “khắc họa lại được những khoảnh khắc quan trọng, đánh dấu được những bước ngoặt trong mối quan hệ của các nhân vật.” Bài hát Rừng Nauy của ban nhạc Beatles xuất hiện hai lần trong bộ phim và âm nhạc của Radiohead cũng là một yếu tố được các tờ báo tỏ ý khen ngợi.

Tuy nhiên, Rừng Nauy không chỉ nhận được những lời ca tụng. Ngay trong bài viết rất tích cực của mình, Deborah Young cũng tin rằng việc chuyển thể tác phẩm nổi tiếng của Murakami sẽ làm cho nhiều người muốn xem Rừng Nauy, nhưng bà cũng thẳng thắn nhận xét họ “sẽ phải hết sức cố gắng kiên nhẫn mới có thể xem hết được bộ phim dài hơn hai giờ đồng hồ về tình yêu và tình dục của tuổi trẻ, cho dù nó có một dàn diễn viên tuyệt vời.” Nhà phê bình Roderick Conway Morris trên tờ New York Times chia sẻ quan điểm này. Ông bình luận rằng bộ phim yêu cầu một sự kiên nhẫn quyết liệt.

Với nhà phê bình Justin Chang thì Rừng Nauy phạm phải những lỗi lầm thường gặp của nhiều bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học: thiếu vắng sự có mặt của nhiều nhân vật phụ và quá nhiều lời kể chuyện. Ông đánh giá bộ phim như một phép thử đối với những người yêu thích lối làm phim nghệ thuật của Trần Anh Hùng và những người hâm mộ Murakami.

Nhưng khắt khe nhất là bài phê bình trên trang Film Starts, khi tác giả Björn Becher cho rằng bộ phim là một nỗi thất vọng lớn bởi nó không khắc họa lại được bản chất mối quan hệ giữa các nhân vật. Ông còn chua cay bình luận Trần Anh Hùng sẽ không bao giờ có thể quay lại đẳng cấp của mình trước đây (với I come with the rain Rừng Nauy). Bài viết cũng phê phán đạo diễn đã để cho các nhân vật của mình phải xuất hiện trong thiên nhiên quá nhiều (Naoko trong tuyết và Midori trong hoa cỏ mùa xuân) chứ không thực sự để họ được thể hiện thế giới bên trong của mình.

Thêm vào đó, trong bài viết khen nhiều hơn chê của mình, Justin Chang vẫn bình luận khá tiêu cực về vai diễn Midori của Kiko Mizuhara. Ông cho rằng nhân vật này là một lỗi lầm tai hại của bộ phim. Theo ông, trong tác phẩm của Murakami, Midori hiện lên như một cô gái có đam mê nhục dục đầy nhưng vô cùng trong sáng. Trong phim, “cô có vẻ như bị nhấn chìm xuống để phù hợp với không khí tinh tế của cả bộ phim, và Mizuhara tỏ ra quá lịch sự và kìm nén, cho dù cô đã biết được những câu nói thể hiện khao khát tình dục thẳng thắn của nhân vật từ kịch bản.”

Những lời khen chê này, có vẻ như không nằm ngoài dự đoán của nhiều người. Tuy vậy, cũng phải thấy là đa số những lời khen đều xuất phát từ việc đánh giá Rừng Nauy của Trần Anh Hùng như một tác phẩm điện ảnh độc lập. Trong khi đó, những đánh giá không tốt thường xuất phát từ sự so sánh với cuốn sách của Haruki Murakami.

Tuy nhiên, một đạo diễn khi chuyển thể một tác phẩm văn học thành phim truyện, trước hết vẫn là một độc giả, và những khác biệt về cách cảm nhận tác phẩm với các độc giả khác là điều không tránh khỏi. Thêm vào đó, điện ảnh và văn học có những ngôn ngữ khác nhau, vậy nên sự so sánh khập khiễng đó có phải là bất công không?

Dù sao đi nữa, đối với nhiều người Việt Nam, chỉ cần một trong hai cái tên Rừng Nauy và Trần Anh Hùng cũng đã đủ khiến họ háo hức. Và may mắn thay, khán giả tại Việt Nam sẽ có cơ hội tận mắt thưởng thức bộ phim Rừng Nauy trong tháng Mười Hai năm nay, và chúng ta sẽ có những nhận xét của riêng mình về bộ phim này.

(Bài đã đăng Thể thao Văn hóa và Đàn ông)

 
Leave a comment

Posted by on 03/10/2010 in Preview

 

Tags: ,

Chuyện cổ tích từ hiện thực tối tăm

Precious: Based on the Novel Push by Sapphire xuất hiện giữa lễ trao giải Oscar năm 2010 như một người khiêm tốn, nhún nhường giữa những ông lớn Avatar The Hurt Locker… Nhưng, nó vẫn là bộ phim đi vào lịch sử Oscar bởi lần đầu tiên, một tác phẩm được đạo diễn bởi một người Mỹ da đen được đề cử cho hạng mục phim xuất sắc nhất. Nhà biên kịch của phim, Geoffrey Fletcher, cũng là người da đen đầu tiên giành được tượng vàng danh giá của viện hàn lâm. Nhưng, không kể tới những thành tích về mặt sắc tộc này, bản thân Precious: Based on the Novel Push by Sapphire đã thực sự là một tác phẩm làm rung động trái tim người xem cho dù họ mang màu da nào, sống ở đâu trên thế giới.

Precious – một thiếu nữ vị thành niên – sống trong một thế giới như địa ngục: bản thân mắc bệnh béo phì, chưa từng có bạn trai, bị cha lạm dụng tình dục, người mẹ tàn nhẫn hành hạ cô vì tội “cướp” đi người đàn ông của bà ta, đứa con gái đầu lòng của cô – sản phẩm của tội loạn luân mắc hội chứng down, cô bị đuổi học khi có thai lần thứ hai… Tuy nhiên, cuộc đời cô đã có ánh sáng kể từ khi cô bước vào trường học dành cho những người có hoàn cảnh đặc biệt, nơi cô gặp được người giáo viên có trái tim nồng ấm và những người bạn kỳ quái nhưng biết yêu thương. Cô gặp được người y tá tận tình và cảm thông khi cô sinh hạ đứa con thứ hai. Cô gặp được một nhân viên cứu trợ xã hội biết lắng nghe và luôn thật lòng muốn giúp đỡ. Nhưng, khi tưởng chừng như cuộc đời bi kịch đã lùi lại phía sau, Precious choáng váng biết rằng, cô đã bị nhiễm HIV từ người cha bệnh hoạn của mình. “Tại sao lại là tôi?” câu hỏi mà Precious đặt ra không bao giờ có câu trả lời, số phận nghiệt ngã đã chọn cô mà không phải ai khác. Nhưng, trong tận cùng nỗi đau đớn đó, Precious đã luôn ngẩng cao đầu, bởi cô biết mình là “Precious” (quý giá) và xung quanh cô còn rất nhiều tấm lòng yêu thương, cô sẵn sàng gạt đi người mẹ ích kỷ và tàn nhẫn của mình để giành lại những đứa con và tự lựa chọn lấy cơ hội cuộc đời.

Đạo diễn Lee Daniels đã chọn cho Precious: Based on the Novel Push by Sapphire một phong cách làm phim hòa trộn giữa rất nhiều yếu tố. Người ta có thể tìm thấy ở đây những cảnh tượng tả thực trần trụi, nhưng cũng có ở đó giấc mơ vào ảo giác, ở đó có sự khắc nghiệt những có những cảnh quay trào lộng khiến khán giả bật cười trong nước mắt. Thế giới của Precious tưởng chừng bế tắc, xấu xa tới không lối thoát nhưng cũng tràn ngập niềm vui, cái đẹp và hi vọng. Bộ phim mô tả một hiện thực tăm tối nhưng dẫn tới ánh sáng, và số phận bi đát của Precious – kỳ diệu thay, lại cho chúng ta niềm tin vào hạnh phúc.

Điểm sáng nhất trong bộ phim chính là Precious, cô gái chịu đựng tất cả những đau khổ của cuộc đời nhưng chưa bao giờ tỏ thái độ hằn học hay nuôi dưỡng mong muốn chống đối. Tất cả những gì Precious mong muốn là tình yêu, cô chờ đợi điều đó trong vô vọng, nhưng không vì thế mà thôi chờ đợi. Cô chịu đựng người mẹ dù bà ta đối xử với cô bạo lực, tàn nhẫn, ép cô phải ăn cho tới khi béo phì. Cô chỉ tìm cách trốn thoát khi đứa con thứ hai ra đời, khi người mẹ định làm hại đứa bé sơ sinh. Precious từng bị bỏ đói tới mức phải đi ăn trộm thức ăn và nghi ngờ mọi điều tới mức từ chối bước chân vào lớp học. Nhưng, bên trong thân hình đồ sộ, không hề xinh đẹp và thái độ đa nghi kia là một trái tim nhân ái, rụt rè, khao khát được yêu thương. Lòng khao khát được sống yên bình, được làm một người mẹ tốt của Precious đã được cổ vũ bởi những cử chỉ ủng hộ từ nhỏ nhặt tới lớn lao của những người xung quanh. Cô gái như một hạt giống từ sa mạc khô cằn đã được thổi tới đồng bằng phù sa, để cô có thể nảy mầm và nở bừng cánh hoa của lòng tự tôn, ý thức độc lập và trái tim nồng ấm. Nhân vật Precious đã được thể hiện thành công qua diễn xuất của Gabourey Sidibe – một sinh viên ngành tâm lý học chưa từng đóng phim trước đây. Gabourey Sidibe với cách diễn chân thành, mộc mạc và thấu hiểu với nhân vật của mình thực sự khiến người xem phải kinh ngạc và xúc động.

Bên cạnh đó, những diễn viên phụ tài năng cũng đã góp phần quan trọng vào sự thành công của bộ phim. Mo’Nique – nữ diễn viên thể hiện người mẹ của Precious đã đưa tới cho khán giản một nhân vật có thể làm họ phải rùng mình. Với sự độc ác tới thờ ơ, lòng ghen tuông tới mù quáng và sự tham lam vô độ, người mẹ là đại diện cho toàn bộ thế giới bóng tối của cuộc đời Precious. Thay vì bảo vệ đứa con gái nhỏ của mình, bà ta đã để mặc cho người cha lạm dụng nó, và kết tội Precious đã cướp đi người đàn ông của bà trong khi vẫn lợi dụng con của cô để kiếm tiền phúc lợi xã hội. Những người làm phim đã tận dụng ngoại hình khá to lớn của nữ diễn viên Mo’Nique khi đưa cô vào trong không gian căn hộ thiếu ánh sáng, chật hẹp của hai mẹ con Precious, ở đó nhân vật người mẹ dường như chiếm hết không gian với sự lười biếng và tàn nhẫn của mình. Tuy nhiên, phải tới cuối phim, đột nhiên người ta nhận ra người phụ nữ này cũng thật đáng thương, và sự tuyệt vọng của bà khi Precious dứt áo ra đi để lại cho chúng ta những cảm xúc trái chiều. Diễn xuất thành công của Mo’Nique đã mang lại cho cô tượng vàng Oscar danh giá, giúp cô trở thành một trong năm nữ diễn viên da màu đầu tiên giành được giải thưởng của viện Hàn lâm.

Để tương phản lại hình ảnh người mẹ, nhân vật cô giáo Rain tại trung tâm giáo dục đặt biệt của nữ diễn viên Paula Patton cũng là một điểm sáng trong phim. Với lợi thế là giọng nói khàn ấm áp và khuôn mặt dịu dàng thể hiện cho một con người nhân hậu, cô giáo Rain của Paula Patton dễ dàng lấy được lòng tin của Precious cũng như tình cảm của người xem. Dù vai diễn cô giáo không thực sự là một thách thức lớn, nhưng sự xuất hiện của cô tựa như một đốm lửa hồng đầu tiên sưởi ấm cho Precious, là sự dự báo cho những sự kiện tốt đẹp sẽ tới để bù đắp cho cuộc đời cô gái bất hạnh. Bằng lối diễn đầy truyền cảm và khả năng thể hiện lòng quan tâm nhân ái qua ánh mắt, Paula Patton đã thực sự thành công khi thể hiện nhân vật của mình. Không chỉ vậy, bộ phim còn khiến người xem ngỡ ngàng với sự lột xác đầy tài tình của nữ ca sĩ Mariah Carey trong vai nhân viên tư vấn bảo trợ xã hội. Sự giản dị, khả năng diễn xuất nhập vai tới không ngờ của cô sẽ khiến nhiều người có thể nhầm tưởng đó không phải là Mariah.

Nếu để nói ngắn gọn về Precious: Based on the Novel Push by Sapphire, người ta có thể nói rằng sự thành công của tác phẩm nằm ở khả năng khơi gợi lên sự đồng cảm và phẫn nộ của người xem, cũng như mang tới cho họ niềm tin vào con người bất chấp hiện thực phũ phàng. Ở một mặt nào đó, bộ phim không khác gì một câu chuyện cổ tích thời hiện đại, khi cô gái bị đối xử tàn nhẫn gặp được một bà tiên nhân hậu. Tuy nhiên, cô gái của chúng ta không gặp may một cách ngẫu nhiên, điều đưa cô tới phép màu chính là sự nhẫn nại và lòng khao khát yêu thương, hi vọng sống trong chính cô. Đạo diễn Lee Daniels không ngần ngại khi biến một mô hình cổ tích hòa trộn trong bức tranh tả thực trần trụi và biến bộ phim của anh thành một tác phẩm đa chiều, bức bối mà vẫn ấm áp lòng người.

(Bài đã đăng trên SVVN – vCritic Moonie Mun)

 
Leave a comment

Posted by on 09/09/2010 in Reviews

 

Bản nhạc cho tuổi trẻ

“Với tôi, chỉ Lily là có thật.”

Nhưng trong suốt bộ phim mang tên chính cô gái ấy, All about Lily Chou Chou – người ta chưa bao giờ được nhìn thấy cô một cách rõ ràng, đây không phải là bộ phim về cô. Đây là bộ phim về về những tâm hồn lạc lối bị cầm tù trong nỗi đau. Và Lily Chou Chou mơ hồ hiện lên đâu đó, như một con đường giải thoát hiện hữu mà vô thực.


Nhân vật chính của All about Lily Chou Chou là đôi bạn thân sống ở một vùng tỉnh lẻ của Nhật Bản Yuichi Hasumi và Shusuke Hoshino. Hoshino được biết tới học sinh giỏi nhất của trường, xuất sắc trong môn kiếm đạo. Một mùa hè, hai người cùng một nhóm bạn tình cờ vớ được một món tiền và đi tới Okinawa du lịch. Ở đó, Hoshino suýt chết hai lần và chứng kiến một người khác bị tai nạn thảm khốc. Sau đó, cậu thay đổi – từ một nam sinh ngoan ngoãn, thầm lặng và chịu đựng Hoshino trở thành kẻ đứng đầu nhóm đầu gấu trong trường. Băng của Hoshino bắt các bạn trai, bao gồm cả Yuichi đi ăn trộm tại các cửa hàng, đánh bẫy rồi ép các nữ sinh trở thành gái gọi.

Bị cưỡng chế bốn bề, Yuichi tìm tới âm nhạc của Lily Chou Chou như một nguồn an ủi và giải thoát, cậu lập ra một diễn đàn trên mạng cho những người hâm mộ cô, nơi những linh hồn đau khổ tìm tới để sẻ chia. Sự chịu đựng của Yuichi với nỗi đày đọa tưởng chừng như có thể kéo dài mãi mãi cho tới khi cậu chứng kiến một cô bé sẵn sàng cạo trọc đầu để không phải trở thành gái gọi, một cô bé khác tự tử vì không tìm ra được lối thoát, và đỉnh điểm – Hoshino xé nát tấm vé buổi diễn của Lily Chou Chou mà cậu từng mong đợi. Khi đó, Yuichi biết rằng, cả Lily cũng không thể cứu được mình và cậu quyết định hành động.

All about Lily Chou Chou của đạo diễn Shunji Iwai dài tới 157 phút – đây là một lượng thời gian hiếm gặp và thách thức rạp chiếu, cộng với một câu chuyện buồn nhiều hơn vui, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc và một lối làm phim không nhằm “đãi mắt” khán giả. Khó ai có thể tưởng tượng được sẽ có nhiều khán giả mua vé xem phim. Nhưng, đáng kinh ngạc thay, đây là một trong ba bộ phim thu hút khán giả nhất năm 2001 tại Nhật Bản (cùng với Spirited away lừng danh của Hayao Miyazaki và Visitor Q của Takashi Miike). Sự thành công này chẳng có cách giải thích nào khác hơn ở chính cái nhìn trần trụi, cay đắng mà đầy cảm thông của bộ phim về cuộc sống của nhiều người ở độ tuổi mới lớn tại Nhật Bản. Trước khi thực hiện bộ phim, Shunji Iwai đã đăng lên mạng một cuốn tiểu thuyết do anh viết chỉ bao gồm những lời trò chuyện của nhiều nhân vật. Độc giả của cuốn tiểu thuyết này được phép tham gia đăng tải những thông điệp chen lẫn vào những dòng do Iwai viết. Và như vậy, những ý tưởng All about Lily Chou Chou đã thành hình trọn vẹn – từ chính nỗi niềm của rất nhiều thanh niên Nhật vô danh đã đồng sáng tác cùng đạo diễn. Tám tháng sau đó, bộ phim được bấm máy.

Bộ phim đề cập tới rất nhiều vấn đề của tuổi mới lớn Nhật Bản, những bi kịch mà cho tới tận ngày nay vẫn khiến người dân Nhật trăn trở, day dứt: nạo bạo hành học đường, những cô gái điếm trong bộ đồng phục nữ sinh, tự tử… Tuy nhiên, đó không phải là điều duy nhất khiến hàng triệu người Nhật đi xem bộ phim này, điều quan trọng hơn là đạo diễn Shunji Iwai đã cố tìm ra một cách giải thích, một cách giải thích công bằng, khách quan mà vẫn thấm đẫm đớn đau chua chát về những linh hồn tuổi trẻ bị thương tổn. Gia đình và nhà trường trở thành những hình bóng mờ nhạt trong phim của Shunji Iwai. Cha mẹ, thầy cô chỉ làm bổn phận của họ, khuyên răn đạo đức và hỏi han những lời bâng quơ – họ không thể nào chạm được tới thế giới thực sự của con cái, học trò.

Theo một cách hiển nhiên tới cay đắng, những đứa trẻ đã lớn lên với nỗi cô đơn, đương đầu với tất cả hiểm họa từ mọi phía cả theo nghĩa thể xác và tinh thần mà không người lớn nào nhận ra. Nạn nhân lớn nhất của điều này, nhưng cũng là kẻ tội đồ lớn nhất trong bộ phim chính là Hoshino. Bằng cách xáo trộn trật tự thời gian, bộ phim tô đậm vào sự tương phản giữa Hoshino từng tốt đẹp và khi cậu đã trở thành quái vật. Trong quá khứ cậu nhẫn nhục và hiền hòa bao nhiêu thì hiện tại cậu càng tàn nhẫn, bạo lực bấy nhiêu. Nhưng, có một điều không thay đổi trong Hoshino, đó là nỗi cô độc và khao khát có một người thấu hiểu. Âm nhạc của Lily Chou Chou có thể đi vào trái tim Hoshino, nhưng thế giới ether của cô không đủ mạnh để kéo cậu khỏi những tội ác. Và Yuichi, cậu bé có trái tim trong sáng trước sau không đổi đã một mình chấp nhận sự tra tấn của bạn bè, không đủ sức để kháng cự lại mệnh lệnh đưa Yoko Kuno – cô bé cậu yêu thầm – vào cạm bẫy. Cậu chưa bao giờ dám chống đối một điều gì cho tới cuối bộ phim, cậu chỉ cắn răng chịu đựng – đi ăn trộm, quản lí cô bé bị ép làm gái gọi. Âm nhạc có thể đóng vai trò như thế nào với những người như Yuichi? Đáng tiếc thay, đó chỉ là một lối thoát tạm thời, một cách để họ giữ lại thế giới tinh thần của mình trong khi con người xã hội bị xô xuống đáy.

Hơn thế  nữa, câu chuyện trong All about Lily Chou Chou thể hiện qua những khung hình chênh chao, rung lắc được thực hiện bởi máy quay cầm tay. Bộ phim có thể khiến cho nhiều người có cảm giác việc quay phim quá cẩu thả: ống kính nghiêng ngả (thậm chí có những đoạn phim được thực hiện bằng máy quay du lịch bỏ túi), màn hình đầy muỗi. Shunji Iwai đôi khi còn không cầu viện tới việc chiếu sáng trong những cảnh quay đêm tối. Tất cả chỉ là một vệt sáng mờ mờ, xanh tái chiếu lên khuôn mặt các nhân vật. Cách quay đó tạo nên một hiệu quả thẩm mỹ xuất sắc, khán giả càng cảm thấy bức bối, ức chế khi phải nhìn vào một khuôn hình thiếu ổn định thì họ càng dễ dàng thấu hiểu được cảm giác bất lực, bi quan và tuyệt vọng của những đứa trẻ mới lớn. Đó là ngôn ngữ hiệu quả của điện ảnh mà không cuốn sách, bản nhạc hay bức hình nào có thể thực hiện được, bởi thế bộ phim đã tới thẳng trái tim khán giả Nhật Bản.

Và bất chợt, đôi khi giữa trạng thái nôn nao và u tối  đấy, không gian trong phim đột ngột mở ra với cánh đồng lúa xanh bất tận, với những cánh diều bay trên trời cao, với ánh sáng tràn qua khung cửa khi cô bé Kuno chơi đàn… Đó là những lúc âm nhạc của Lily Chou Chou vang lên như bài cầu siêu cho những điều đã chết đi quá sớm, và đó là thế giới có thực trong tâm hồn của Hoshino, Yuichi… của tất cả người trẻ bị thương tổn.

Bộ phim kết thúc với một hành động táo bạo của Yuichi, sau khi cậu phải đứng bên ngoài cánh cửa, và bên trong kia thần tượng của cậu đang cất tiếng hát về  nỗi đớn đau, về sự tinh khiết và giải thoát… Cậu cầm trên tay một trái táo xanh, và khi cậu quyết định ra tay chấm dứt nỗi khổ ải bao nhiêu năm, trái táo ấy đã bị đâm thủng và lấm máu – như trái tim trong sáng của cậu sẽ không bao giờ có thể lành lặn, không bao giờ còn vẹn nguyên. Chỉ còn lại Lily Chou Chou và âm nhạc dù tuyệt vọng vẫn trong lành của cô – dù có thể từ đó, Yuichi không còn cần cô nữa.

Bài đã đăng trên SVVN, đây là bản chưa edit.

 
1 Comment

Posted by on 31/12/2009 in Reviews

 

Cuộc sống mãi chảy trôi

Hirokazu Koreeda trở thành đạo diễn Nhật Bản nổi tiếng nổi tiếng khắp thế giới với Nobody knows – tác phẩm mang lại cho ông đề cử cành cọ vàng và giải thưởng nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại liên hoan phim Cannes cho cậu bé mười bốn tuổi Yūya Yagira. Tuy nhiên, bốn năm sau đó chính Cannes đã từ chối bộ phim truyện của ông Still Walking. Lời từ chối của Cannes có thể khiến nhiều người đánh giá bộ phim như bước lùi của Hirokazu Koreeda. Nhưng, không phải vậy, giải thưởng điện ảnh danh giá đôi khi chỉ là một danh hiệu, một tấm áo đẹp khoác lên mỗi tác phẩm, không cần một đề cử tại Cannes, Still walking của Hirokazu vẫn mang lại cho mọi khán giả những xúc cảm trái chiều mà không phải tác phẩm điện ảnh nào cũng làm được.

Still Walking đưa người xem theo chân Ryota Yokoyama – một người làm nghề phục chế tác phẩm hội họa – về với quê nhà ở khu dân cư thanh bình ngay cạnh biển. Anh mang theo người vợ Yukari và đứa con riêng của cô về nhà họp mặt để tưởng nhớ người anh đã qua đời mười lăm năm trước trong khi nhảy xuống biển cứu bạn. Ký ức và nỗi đau về đứa con đã chết vẫn đè nặng lên trái tim cha mẹ Ryota, họ không ngừng so sánh người đã khuất với người còn sống và không dấu diếm nỗi uất ức đầy bế tắc về chuyện buồn xảy ra với con trai họ. Thời gian hơn một ngày trong ngôi nhà gỗ đối với Ryota và vợ con anh vừa là gánh nặng, vừa là những giây phút đầu tiên họ thấu hiểu rõ nhất về tấm lòng cha mẹ và vòng quay tuần hòan của cuộc đời.

Cũng giống như đa số phim của Hirokazu Koreeda, Still walking khước từ thế giới rộng lớn và hướng tới không gian nhỏ bé của một căn nhà, một gia đình. Trong phim, người ta thấy lại căn nhà của Nhật Bản truyền thống với những cánh cửa gỗ, một phòng khách nho nhỏ hướng ra vườn, vòng hương xua muỗi đêm hè và căn bếp cũ… Bối cảnh căn nhà cũ kỹ được lựa chọn cho phim vừa là ẩn dụ cho những nỗi đau khổ đã và đang đè nặng lên trái tim của cha mẹ Ryota, vừa như chiếc ngăn kéo giản dị lưu giữ lại những ký ức tươi đẹp về một gia đình từng đầm ấm và đông đủ. Mái nhà cũ kỹ từ chối thay đổi cùng thời gian, cũng như những thói quen của người cha và người mẹ. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh đó tưởng chừng như một bài ca buồn tẻ lặp đi lặp lại: người cha già vốn từng là một bác sỹ lặng lẽ lẩn tránh những đứa con, người mẹ liên tục nhắc lại những kỷ niệm về đứa con quá cố, Ryota đang thấy mình bị đày ải… Thế nhưng, giữa cảm giác u buồn nặng nề mà đạo diễn đã cố tình để cho khán giả bị lây lan từ nhân vật đó bỗng có những chi tiết khiến người ta thấy được sự chuyển động của cuộc đời: một người giao hàng khiêm tốn vốn từng là đứa trẻ hư hỏng xuất hiện, người bạn đã đổi mạng cho con trai họ khi xưa đã tìm thấy việc làm sau nhiều ngày lận đận… Ngay cả người chị gái của Ryota cũng đã xoay xở để vượt qua nỗi đau khổ của gia đình, tìm được cuộc sống hạnh phúc. Và rồi chính Ryota cũng ra đi, để lại cha mẹ và mái nhà xưa cũ. Những chi tiết xáo trộn dù bé nhỏ hay lớn lao trong quãng thời gian ngắn ngủ Ryota ngụ lại nhà đều cho thấy sự tinh tế của đạo diễn khi kín đáo thể hiện ngụ ý về một cuộc sống vẫn tiếp tục chảy trôi, những điều cũ qua đi, những điều mới rồi lại trở thành xưa cũ, và đó chính là lý lẽ của cuộc đời.

Tác phẩm của Hirokazu Koreeda gợi nhắc lại cho người xem bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Yasujiro Ozu Tokyo Story. Cũng là câu chuyện về họp mặt gia đình, nhưng Ozu để cho bố mẹ lên Tokyo gặp con để thấy những đổi thay còn Koreeda đưa những đứa con trở về nhà và nhận thấy mọi điều ở đó dường như không có gì thay đổi. Bộ phim của Koreeda là một sự hoán vị đảo ngược so với tác phẩm kinh điển của Ozu. Người mẹ trong phim của Ozu chấp nhận sự thật về cái chết của một người con trai trong chiến tranh và khuyến khích cô con dâu tái giá, trong khi đó người mẹ trong Still Walking lại cương quyết giữ chặt lấy nỗi đớn đau về đứa con đã qua đời. Sự dịu ngọt, đầm ấm trong bộ phim kinh điển của Yasujiro Ozu được thay thế bằng cảm giác bất lực, chua xót và có phần nghiệt ngã.

Cảm xúc từ Still Walking tô đậm dấu ấn phong cách của Hirokazu Koreeda bởi đây không phải là lần đầu tiên xây dựng một câu chuyện cay đắng về gia đình. Tác phẩm mang lại danh tiếng cho ông Nobody Knows đã từng kể lại cuộc sống đói nghèo và bơ vơ giữa Tokyo giàu có của bốn đứa trẻ bị người mẹ vô tâm bỏ mặc. Bộ phim từng được đề cử cành cọ vàng này không dấu diếm cái nhìn đầy chua xót về một nền tảng gia đình và sự bao bọc lẫn nhau đã bị phá vỡ hoàn toàn bởi những nhu cầu cá thể và sự ích kỷ của mỗi con người. So sánh với bộ phim trước, người ta lại nhận thấy rằng thực chất Still Walking là một sự thay đổi tích cực trong quan niệm của đạo diễn. Bởi lẽ, dù từng nhân vật trong bộ phim đều phải đối mặt với áp lực và cảm giác gượng gạo, bất an nhưng tình cảm gia đình vẫn bàng bạc bao phủ lên toàn bộ câu chuyện. Những hành động đôi khi là cay nghiệt của người mẹ, sự thờ ơ và trốn tránh của người cha và cảm giác lạc lõng của đứa con riêng của Yukari được bù đắp những lời truyện trò, san sẻ khi họ được đối diện từng người một với nhau và được thể hiện nỗi lòng sâu xa nhất của mình. Dù cả hai bộ phim đều có những chi tiết nói về nỗi cô đơn của từng thành viên trong gia đình, nhưng Still Walking không nhấn mạnh sự đổ vỡ của những giấc mơ hạnh phúc như Nobody Knows, thay vào đó, Koreeda đưa người xem lên chuyến xe bus đi tới sự thay đổi và quá khứ trở thành cánh bướm vàng mỏng manh bay về.

Để thể hiện ý tưởng cho Still Walking, Koreeda một lần nữa tiếp tục thể hiện cách làm phim chậm rãi, giản dị và khác biệt vốn đã trở thành đặc trưng của ông, thể hiện thống nhất từ các tác phẩm đầu tay, qua bộ phim nổi tiếng nhất Nobody Knows và tiếp tục với các tác phẩm sau đó.

Still Walking được thực hiện với đa số là cảnh quay nội với cỡ hình trung và cận cảnh tạo cảm giác ngột ngạt nặng nề và bỗng bất chợt, chỉ một đôi lúc – không gian được mở tung ra trên con đường, trên bờ biển để rồi lại quay về những căn phòng chật chội đó. Mọi nhân vật tồn tại trong một bối cảnh nhỏ hẹp như vậy, họ vẫn cố để không va chạm vào nhau nhưng rồi nhanh chóng nhận ra đó là điều không thể. Họ ở đó, mỗi người đeo đuổi một nỗi niềm riêng, lảng tránh nhau nhưng sự chật hẹp buộc họ phải giao tiếp và cởi mở tấm lòng mình để tới cuối bộ phim – khoảng cách giữa con người được co hẹp lại, cho dù những đứa con đã rời đi. Cuối cùng, hai nhân vật cha và mẹ cũng đã xuất hiện cùng nhau trong một không gian ngoại, toàn cảnh khi họ bước lên những bậc thang đá rêu phong và cùng nói về những ký ức tươi đẹp nhất. Sự dịch chuyển của không gian và sự mở rộng cỡ hình mang lại xúc cảm của hi vọng và sự ấm áp dù mong manh nhưng hiện hữu.

Ánh sáng trong phim cũng mang ý nghĩa ẩn dụ khi Hirokazu Koreeda cố tình tạo nên sự tương phản giữa ánh sáng bên ngoài và bên trong ngôi nhà. Cùng một màu sắc đơn giản kết hợp giữa nâu, xanh và xám, nhưng với không gian ngoại cảnh, những khuôn hình tràn ngập ánh sáng toát lên cảm giác trong sáng, rộng mở và đầy hi vọng, trong khi đó không gian bên trong căn nhà dường như luôn thiếu sáng, luôn như đang cầu viện một cánh cửa nào đó mở toang để nó được rộng thêm, rộng hơn nữa. Chính vì vậy, sự gia tăng của các cảnh quay ngoại và không gian phủ đầy ánh sáng khi phim đi tới những phút cuối cùng mang lại cảm giác của hi vọng và bình yên, dù cái kết của phim không hẳn là một dấu chấm trọn vẹn.

Still Walking đồng thời có thêm một yếu tố nghệ thuật gợi nhắc về đạo diễn tiền bối Yasujiro Ozu: góc quay thấp và khuôn hình tĩnh. Khi Ozu sáng tạo nên nghệ thuật quay này, ông đã thực sự đưa điện ảnh từ Âu Mỹ về với Nhật Bản, góc quay tương đương với tầm mắt của người Nhật đang ngồi quỳ và sự yên tĩnh tuyệt đối của máy quay như cảm giác yên ả của những khu vườn truyền thống. Giờ đây, Koreeda sử dụng lại phong cách đó như hoài niệm về những ngày đã qua nhưng cũng để đối lập giữa vẻ ngoài yên tĩnh của một ngôi nhà đã cũ kỹ và thế giới nội tâm đầy đớn đau và dậy sóng của những nhân vật. Cách quay phim này được sử dụng triệt để khi các nhân vật ngồi lại cạnh nhau, trước chiếc bàn thấp và trên lớp chiếu tatami quen thuộc, đó là cách đạo diễn nhân vật trở về với cuộc sống truyền thống và một hình ảnh gia đình mẫu mực, bất kể sự xung quanh chiếc bàn đó, mỗi con người đều ôm ấp nỗi niềm riêng và không mong chờ được cảm thông.

Tác phẩm của Koreeda kết thúc bằng một cảnh quay như lặp lại sự kiện cũ. Ryota lại đưa vợ con anh trở về quê – khi cha mẹ anh đã qua đời, và họ đứng trước mộ, làm lại những nghi thức mà người mẹ trước đây đã làm với nấm mộ của người con trai đoản mệnh. Không còn mái nhà xưa chật hẹp, không gian trong cảnh cuối phim là thế giới bên ngoài được mở rộng tới mức tối đa, cả bầu trời, bờ biển, khu dân cư và cả nghĩa địa nơi những người đã chết yên nghỉ. Cậu bé ngày xưa đã lớn lên, một đứa trẻ khác đã ra đời và chúng lại nhìn thấy con bướm vàng như biểu tượng của linh hồn người thân quay trở lại. Các nhân vật đi xuống con đường vòng như ẩn dụ cho vòng quay cuộc đời sẽ tiếp tục, sẽ thay đổi và sẽ lặp lại. Bộ phim của Koreeda khép lại nhưng mở ra, bởi những mái nhà bảo bọc cho các gia đình vẫn êm đềm bên bờ biển dậy sóng và cuộc sống kia vẫn tiếp tục chảy trôi.

(Bài đã đăng trên báo SVVN, bản này đầy đủ hơn bản đã được đăng).

 
4 Comments

Posted by on 17/11/2009 in Reviews

 

Tags: ,

An early review: Chơi vơi

Chơi vơi – bộ phim truyện thứ hai của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đang chuẩn bị lên đường tới Venice, bộ phim đã được chọn cho hạng mục giải Orizzonti. Chơi vơi sẽ được ra mắt chính thức ở LHP Venice, sau đó sẽ được công chiếu tại Việt Nam.

Chơi vơi kể lại câu chuyện về Duyên – một phụ nữ trẻ, xinh xắn, trong sáng. Cô quyết định lấy Hải, một người trẻ hơn cô hai tuổi chỉ sau ba tháng quen biết. Cầm là người bạn gái thân của Duyên, một nhà văn, trưởng thành hơn Duyên. Cầm tặng Duyên chiếc áo ngủ mẹ Cầm đã thêu suốt một năm, vốn định dành cho đêm tân hôn của con gái. Cuộc sống của Duyên thoạt tưởng là hạnh phúc, nhưng thực ra Hải chỉ như một đứa trẻ con vẫn chưa thoát khỏi vòng tay mẹ. Vì thế, khi Cầm nhờ cô đưa một lá thư tới cho Thổ, sự hoang dã và ranh ma của người đàn ông này đã lôi cuốn cô… Và rồi, mọi điều bắt đầu, giữa thế giới của hàng trăm dây đàn xúc cảm, thế giới chơi vơi.

Chơi vơi là một bộ phim chừng mực và tinh tế. Đó là điều không phải bộ phim nào cũng làm được , dù là phim mang quốc tịch nào. Các chi tiết trong phim đều ngừng lại được ở ngưỡng vừa đủ, luôn đứng lại ở lưng chừng. Chúng đặt bạn ở vị thế chông chênh đó, bạn có thể ngả về bên này, hoặc có thể ngả về bên kia, hoặc sẽ mãi mãi như vậy. Điều này vừa mang lại cảm giác “thực tế” vừa bỏ ngỏ lại cả sự hụt hẫng, như chờ được lý giải tiếp. Nhưng không, phim ngừng lại ở đó, sau biến cố lớn nhất, không ai biết mọi chuyện sẽ tiếp diễn ra sao… Khán giả có thể hẫng hụt, nhưng họ biết rằng, cuộc sống sẽ luôn là cộng hưởng của những giai điệu tế vi như vậy, và liệu có ai biết chắc câu trả lời?

Bộ phim là một bước tiến dài trong diễn xuất của Đỗ Hải Yến – thể hiện cho vai Duyên, cô đã nhuần nhị hơn, sâu sắc hơn những nhân vật trước đó. Người ta thấy cô không còn “diễn” như trong Chuyện của Pao mà bắt nhịp được với thế giới của nhân vật. Linh Đan vẫn là một diễn viên vượt trội. Có vẻ như đây là diễn viên có ngoại hình hợp với vai diễn nhất bởi Cầm có cùng độ tuổi, có vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại như cô. Linh Đan thực hiện cảnh quay chủ yếu tại ngôi nhà cổ, cô ít di chuyển, cũng ít cử động nhất nhưng vẫn diễn tả tròn vẹn được tâm lý của Cầm – một người phụ nữ với rất nhiều xúc cảm trái chiều bùng nổ trong lòng. Các diễn viên khác cũng vậy, tất cả đều vừa đủ, ngay những diễn viên đóng lần đầu tiên.

Chỉ có một điều vẫn chưa thực sự hoàn hảo trong diễn xuất, đó là giọng các diễn viên nói. Tuy không phải là vô cảm, nhưng những câu nói ấy vẫn chưa mang lại cảm giác trọn vẹn. Đều được thu thanh trực tiếp, nhưng diễn viên trong bộ phim truyện đầu tay của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên – Sống trong sợ hãi – thể hiện tình cảm và thái độ qua giọng nói tốt hơn các diễn viên trong Chơi vơi. Diễn viên thể hiện giọng tốt nhất có lẽ là cô bé đóng vai Miên – cô thiếu nữ nghèo chỉ mơ ước có được một nhà tắm đẹp, có vòi hoa sen.

Lời thoại trong Chơi vơi đôi khi quá trau chuốt, nhưng, với một không gian như ngôi nhà của Cầm, có lẽ đó cũng không phải là một điều gượng ép.

Rất tiếc – tôi xem bộ phim này ở phòng chiếu của Hội điện ảnh, và chất lượng kỹ thuật ở đây không được tốt: Hình bị phủ sương, màu bị rung, âm thanh kém. Chuyện này làm ảnh hưởng nhiều tới cảm giác về hình ảnh của bộ phim. Tuy nhiên, ngay cả vậy, người xem vẫn có thể nhận ra rằng, Chơi vơi có rất nhiều cảnh quay đẹp, được cân nhắc và sắp xếp chu đáo. Đặc biệt là những cảnh quay Duyên và Cầm, đầy gợi cảm và tinh tế. Đây chắc chắc sẽ là những cảnh quay để lại ấn tượng khó quên trong lòng người xem.

https://i1.wp.com/www.phanxineblog.com/wp-content/uploads/2009/04/choivoi-2.jpg

Phần cuối của bộ phim dày đặc mưa. Trận lụt “lịch sử” của Hà Nội vào tháng Mười năm 2008 cũng được xuất hiện trong phim, là một sự tình cờ may mắn mang lại cho bộ phim một cảm giác mênh mang buồn, có chút bế tắc và đậm đặc chơi vơi. Chơi vơi là bộ phim nhiều mưa, khiến cho người ta có cảm giác như thế giới xúc cảm của con người chìm đắm trong tiếng mưa rơi kéo dài và không ai thực sự nhìn rõ hay thấu hiểu.

Chơi vơi là một thử thách với bất cứ đạo diễn nào thực hiện, và cũng là một thử thách cho những phòng chiếu. Mong rằng bộ phim sẽ thành công tại Venice để có nhiều người chú ý tới nó hơn.

 
4 Comments

Posted by on 31/07/2009 in On Screen

 
 
%d bloggers like this: