RSS

Author Archives: youtamoutechi

Aside
Câu chuyện Bụi Đời Chợ Lớn (BĐCL) bị tạm ngưng phát hành theo đề nghị của Cục Điện Ảnh những tưởng chỉ là một một sự việc “thường ngày ở huyện” trong nền hành chính nước ta, nếu có “nóng” thì cũng chỉ đủ độ “râm ran” trong giới làm nghề. Ấy vậy mà sự việc lại có vẻ như đã nóng thật sự vì sự quan tâm từ phía khán giả. Khán giả Việt Nam đồng loạt lên tiếng ủng hộ bộ phim trên các mạng xã hội và cả các kênh truyền thông chính thức, đó là một thực tế không thể phủ nhận. Đó là thành quả của hơn mười năm phấn đấu của Điện ảnh Việt Nam khi giờ đây khán giả thực sự mong đợi một sản phẩm màn bạc Việt, điều vốn chỉ có ở phim Hollywood. Dẫu vậy, số phận của chính BĐCL hiện vẫn còn là một câu hỏi lớn.

BDCL10152785767670075_1290373615_n

Có Luật, nhưng vẫn thiếu luật chơi

Thật ra sự thành công của điện ảnh Việt Nam phải kể đến vai trò cực kỳ quan trọng của Luật Điện Ảnh đã được ban hành năm 2006, đi kèm với một Nghị định hướng dẫn của Thủ tướng chính phủ năm 2007. Hai văn bản này đã đưa ra một quy định mang tính cách mạng: chỉ cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phim một lần duy nhất cho các Hãng phim tư nhân khi thành lập, sau đó các Hãng phim sẽ không phải xin phép làm phim cho từng bộ phim nữa. Quy định này đã làm bùng nổ một làn sóng xã hội hóa điện ảnh khi có hàng trăm hãng phim tư nhân đăng ký thành lập, mở ra một kênh đầu tư mới hết sức thênh thang: đầu tư làm phim. Kết quả của cuộc cởi trói ngoạn mục này là số lượng phim Việt Nam ở cả mảng truyền hình lẫn điện ảnh đều nở rộ. Dẫu số lượng phim chiếu rạp hàng năm dù chỉ tăng dần tới mốc gấp đôi so với trước năm 2006, thì bởi đặc thù riêng về yêu cầu kinh phí và chất lượng kỹ thuật, đây vẫn là một thành tựu không hề nhỏ.

Nhưng trớ trêu thay, các công chức từ chính Cục Điện Ảnh nhiều khi lại chưa nắm rõ Luật Điện Ảnh. Gần đây nhất chính là trường hợp Cục trưởng Ngô Phương Lan phát biểu rằng phim Bụi Đời Chợ Lớn đã vi phạm Luật điện ảnh vì không chỉnh sửa kịch bản như yêu cầu của Cục. Đây là một phát biểu chưa hẳn chuẩn xác: theo điều 23 của Luật Điện ảnh, một kịch bản chỉ phải nộp lên để thẩm định khi đây là hoạt động “hợp tác, liên doanh sản xuất phim cho tổ chức, cá nhân nước ngoài” để xin giấy phép làm phim tại Việt Nam. Như vậy, nếu nhà sản xuất của phim này chỉ là những công ty đăng ký kinh doanh tại Việt Nam (cụ thể ở đây là Chánh Phương Film, Thiên Ngân Galaxy) thì nhà sản xuất không cần phải xin duyệt kịch bản. Kể cả khi họ chủ động nộp và xin ý kiến từ Cục, thì cũng không thể kết luận họ vi phạm pháp luật nếu họ không làm theo các ý kiến ấy. Bởi đây là họ xin ý kiến chứ không phải xin giấy phép làm phim. Cho rằng chỉ cần thành phần đoàn có người nước ngoài thì phim phải duyệt kịch bản là một cách hiểu sai tồn tại ở rất nhiều người làm việc tại Cục Điện Ảnh. Năm ngoái, khi nộp phim Dành Cho Tháng Sáu để duyệt phát hành, đạo diễn Nguyễn Hữu Tuấn cũng đã được hỏi vì sao không duyệt kịch bản khi dựng phim là người nước ngoài. Ông Tuấn cho biết: “Tôi trả lời rằng ở thời điểm quay phim thì tôi không thể biết đến chuyện là sẽ có người dựng phim nước ngoài, vì quay xong tôi mới gặp họ. Vì vậy yêu cầu duyệt kịch bản là vô lý. Hơn nữa phim hiện nay đã hoàn thành, tôi đã nộp phim lên thì còn duyệt kịch bản làm gì nữa? Sau đó phía Cục Điện Ảnh không có yêu cầu gì về kịch bản nữa.

Tuy nhiên, Luật Điện Ảnh và hệ thống quy định pháp lý đi kèm vẫn chưa hoàn bị. Một trong những vấn đề còn tồn đọng, đó chính là công tác thẩm định phim. Quyền hạn của các Hội đồng thẩm định phim được quy định trong Luật là rất lớn, đặc biệt là của Hội đồng duyệt phim thuộc Cục Điện Ảnh. Họ có toàn quyền quyết định một bộ phim được chiếu hay không, nghĩa là quyết định số phần hàng tỷ đồng đầu tư của nhà sản xuất. Nhưng bản thân Hội Đồng lại không phải bị ràng buộc bởi bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào vì trong Luật hoàn toàn không có quy định. Liệu có ai dám chắc được Hội đồng này sẽ không sai sót? Liệu có ai dám chắc Hội đồng này không thể ra quyết định vì một mục đích cá nhân vụ lợi nào đó? Hoàn toàn có thể đặt ra trường hợp một đối thủ kinh doanh mua chuộc Hội đồng để giết chết một bộ phim. Nếu ví như công tác duyệt phim là một trận đấu bóng, thì nhà sản xuất và cơ quan quản lý là hai đội bóng. Nhưng với quy định của Luật như vậy, thì cơ quan quản lý lại vừa đá bóng vừa thổi còi, có thể phạm lỗi mà chẳng bị phạt.

Thêm nữa, hiện nay những hành vi bị cấm chỉ được nói khá chung chung trong Luật Điện Ảnh. Sự thiếu rõ ràng này không thể phản ánh hết được sự thiên hình vạn trạng của công việc sáng tạo nghệ thuật, dẫn đến sự bối rối của cả người làm phim lẫn chính Hội đồng thẩm định. So sánh với hệ thống tiêu chuẩn phân loại phim rất phức tạp của Mỹ, thì tiêu chuẩn của chúng ta nghèo nàn đến tội nghiệp. Vì không có tiêu chuẩn, nên Hội đồng chỉ có thể đánh giá mơ hồ theo cảm nhận cá nhân, không thể tránh khỏi sự cảm tính, thiếu khách quan do sự khác biệt về quan điểm, nhận thức nghệ thuật.

Liệu có phải là chơi xấu?

Trong lúc dư luận đa phần đứng về phía Bụi Đời Chợ Lớn, thì bất ngờ trang tin trực tuyến của Báo Văn Hóa, thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch, nêu ra vấn đề về cái tên tiếng Anh được in trên tập kịch bản phim này: Chinatown. Trong một thời điểm nhạy cảm, vấn đề này đã khiến cho rất nhiều khán giả vốn ủng hộ phim, bỗng quay sang giận dữ với người làm phim vì đã chạm vào tinh thần dân tộc. Bỗng nhiên hướng dư luận lại có lợi cho Cục Điện ảnh. Phải nói thêm là tấm ảnh chụp bìa kịch bản duyệt là được một thành viên của Hội đồng thẩm định đưa ra, không khỏi khiến người ta phải nghi ngờ rằng Cục đang cố gắng gỡ thể diện bằng một phương pháp không đẹp. Bởi chụp mũ thiếu tinh thần dân tộc lên đầu người làm phim trong trường hợp này là một hành vi đánh lạc hướng rất nguy hiểm.

Thứ nhất, phải nói rõ ràng, nội dung phim có thể bạo lực, nhưng không hề có yếu tố chính trị, điều này Hội đồng thẩm định hẳn biết rõ vì họ đã xem phim. Thứ hai, việc đặt một cái tựa tạm thời để sử dụng trong thời gian làm phim, sau đó không dùng là tựa chính thức là chuyện vô cùng bình thường. Chính đạo diễn Charlie Nguyễn cũng đã phải đăng đàn nói rõ, rằng họ chỉ chọn một cái tên theo thói quen để tiện dùng khi trao đổi trong đoàn với nhau, và tên quốc tế chính thức của phim là Cho Lon. Thứ ba, người ta đã tìm thấy trên trang Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam một bài viết vào ngày 5/1/2012 về không khí Tết tại Chợ Lớn, trong đó dùng từ Chinatown để nói về nơi này. Có lẽ Cục Điện Ảnh cần phải lên tiếng chính thức, cải chính lại về vấn đề này vì để dư luận hiểu sai như vậy là hết sức bất công cho người làm phim. Liệu Cục sẽ phải đối diện với các Hãng phim thế nào đây khi cần nhờ đến sự hỗ trợ của họ trong các hoạt động chung, như họ đã từng đóng vai trò hết sức quan trọng trong Liên hoan phim quốc tế Hà Nội?

Đâu là lối ra?

Có lẽ Bụi Đời Chợ Lớn sau khi chỉnh sửa sẽ không bị cấm chiếu như trường hợp của Bẫy Cấp Ba năm ngoái. Nhưng nếu cứ khắt khe cấm chiếu, các nhà sản xuất phim mất hết vốn đầu tư, liệu chính sách khuyến khích xã hội hóa điện ảnh sẽ đi về đâu? Một điều hết sức rõ ràng: công tác thẩm định phim phải được cải thiện.

Trước hết, Hội đồng thẩm định phim cần được đổi mới liên tục, để tư duy về điện ảnh của Hội đồng không bị lạc hậu, trì trệ. Hiện nay tuổi trung bình của 9 thành viên Hội đồng đã khá lớn, gồm những người được đào tạo và trưởng thành trong môi trường điện ảnh bao cấp, phần lớn tư duy nghệ thuật của họ đã lỗi thời. Chúng ta cần một hội đồng duyệt nhiều thành viên hơn để tăng sự khách quan, trẻ trung hơn để theo kịp tư duy mới của thời đại. Thậm chí có thể mở rộng cho các thành phần xã hội khác tham gia vào công tác này, chứ không chỉ gồm các nghệ sĩ điện ảnh. Hiệp hội điện ảnh Mỹ, cơ quan chịu trách nhiệm phân loại phim tại quốc gia này thành lập Hội đồng thẩm định từ những người khán giả rất bình thường. Các khán giả này được lựa chọn ngẫu nhiên, trải qua phỏng vấn để kiểm tra về tư duy điện ảnh. Các thành viên hội đồng này cũng thường xuyên được thay đổi.

Song song với đó, Nhà nước cần đưa ra một hệ thống tiêu chuẩn chi tiết để dùng cho công tác thẩm định phim. Bạo lực đến đâu là chấp nhận được, đến đâu là không, thế nào là không đúng thực tế xã hội… tất cả đều cần những tiêu chuẩn rõ ràng, càng ít sự cảm tính thì sẽ càng công bằng. Và điều càng cần thiết hơn là Quốc hội cần phải rà soát và điều chỉnh lại Luật Điện ảnh. Hãy quy định rõ ràng hơn trách nhiệm pháp lý của Hội đồng thẩm định, phải đưa ra cả những hành vi cấm vi phạm đối với Hội đồng này. Có như vậy chúng ta mới có thể giải quyết được tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi. Làm sao để Luật đem lại lợi ích cho cả người làm phim lẫn cơ quan quản lý nhà nước. Và đặc biệt là để người làm phim thấy rằng quyền lợi chính đáng của họ được bảo vệ bởi Luật Điện Ảnh.

Dương Vy

(Bài đã đăng trên tạp chí 2!Đẹp, 2/5/2013)

Câu chuyện Bụi Đời Chợ Lớn – Từ thiếu luật chơi đến chơi xấu

 
1 Comment

Posted by on 05/05/2013 in Features

 

Hotboy nổi loạn lạc lối trong thiên đường…

Thể loại: Tâm lý
Đạo diễn: Vũ Ngọc Đãng
Diễn viên chính: Hồ Vĩnh Khoa, Lương Mạnh Hải, Phương Thanh, Hiếu Hiền, Linh Sơn

Không phải bộ phim Việt Nam nào cũng được vinh dự mời tham dự một liên hoan phim tầm cỡ như Toronto và trở thành bộ phim đầu tiên từ mảnh đất hình chữ S được một công ty danh tiếng như Fortissimo Films phát hành như Hotboy nổi loạn và câu chuyện về thằng Cười, cô gái điếm và con vịt (viết tắt: HBNL). Chỉ chừng đó cũng đủ khiến những người hâm mộ điện ảnh Việt Nam háo hức; chưa kể cái tên người đạo diễn – Vũ Ngọc Đãng – đã trở nên quá quen thuộc đối với khán giả đại chúng. Tuy còn đôi chút nghi ngờ vì bộ phim được thực hiện khá gấp gáp (không kể thời gian tiền kỳ), hầu hết ai cũng hi vọng vào một bộ phim Việt Nam chất lượng tương đương thế giới, một tinh thần độc lập, một giá ­trị thương hiệu trong một năm mà nổi bật nhất chỉ là các dự án thương mại thắng lớn và các “thảm họa.”

Read the rest of this entry »

 

Tags: , , , , , , ,

Super 8 (2011) – Những cuốn phim 8mm và một con quái vật

Thể loại: Phiêu lưu / Kì bí / Khoa học viễn tưởng
Đạo diễn: J.J. Abrams
Diễn viên chính: Joel Courtney, Ryan Lee, Elle Fanning, Riley Griffiths, Kyle Chandler

Hoài cổ. Đó là từ mà cả nhà sản xuất Steven Spielberg và đạo diễn J.J Abrams đều nhắc đến khi nói về Super 8, bộ phim hè mới nhất của bộ đôi ăn ý này. Super 8 vốn là tên thương hiệu của loại phim 8mm do Kodak sản xuất, dùng phổ biến cho các loại máy quay nhỏ, dành cho gia đình, rất phổ biến tại Mỹ trước khi băng video ra đời. Dòng sản phảm này được tung ra thị trường năm 1965 và rất nhanh chóng dẫn dắt một thế hệ trẻ em bước vào thế giới của những cú máy. Nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà làm phim nổi tiếng như chính bản thân J.J Abrams. Không có gì lạ khi đạo diễn này nói rằng tất cả những nhân vật nhí trong phim đều có một phần của anh: một đám trẻ tụ lại để làm một bộ phim về xác sống. Hoài cổ còn là để nhắc đến những dấu ấn của Steven Spielberg: ngay từ trong đoạn trailer khá úp mở (như vẫn thường thấy ở J.J Abrams), khán giả của những bộ phim trong thập niên 80 có thể nhận ra sự tương đồng của Super 8 với Close Encounters of the Third Kind (1977), E.T. (1984) và The Goonies (1985 – Spielberg viết kịch bản). Quả thực, có thể tóm gọn Super 8 lại như sau: một E.T. của thế kỷ XXI với kỹ xảo mãn nhãn trong một không khí kinh dị rất hiện thực như Jaws.

Read the rest of this entry »

 
2 Comments

Posted by on 11/06/2011 in On Screen, Reviews

 

Tags: , , , ,

1735 Km (2005) – Âu cũng là cái số

Thể loại: Tâm lý / Lãng mạn
Đạo diễn: Nguyễn Nghiêm Đăng Tuấn
Diễn viên: Khánh Trình, Dương Yến Ngọc

Năm 2004 – 2005, tôi không quan tâm chút nào đến phim ảnh nói chung, tuy nhiên tôi nghe nói có một bộ phim tên như vậy. Tôi cũng đã thử tìm xem có rạp nào ở Hà Nội chiếu hay không, thế nhưng đâu như nó chỉ được chiếu vài buổi theo dạng vé “mời” cho sinh viên xem ở CLB văn hoá thanh niên hồ Thiền Quang. Có lẽ các bạn trẻ ở thủ đô bây giờ không tưởng tượng được kiểu chiếu phim đó, có lẽ tôi thuộc vào cái thế hệ cuối cùng được chứng kiến kiểu chiếu phim bao cấp ấy ở cái đô thị cấp đặc biệt này, trong cái thế kỷ 21 tối tân này (có bạn thậm chí bộc bạch là từ lúc đủ lớn để biết đi xem phim, bạn chưa đi xem rạp nào khác ngoài MegaStar). Đấy vẫn còn là thời kỳ của internet dial-up tít te tạch xè, tốn chắc cả trăm nghìn tiền cước chỉ để download 1 bài hát 4mb vì nó đồng nghĩa với việc buôn điện thoại chừng 4-6 tiếng (mẹ của bạn không thể gọi điện cho bố bạn trong thời gian đó, đương nhiên!). Đó là một thời kỳ nguyên thuỷ hoang dã văn hoá và điện ảnh Việt Nam sau năm 2000 còn đang chập chững với những bộ phim thương mai đầu tiên, một trong những phim đó là 1735 Km. Thật đáng tiếc là ở thời điểm đó, cá nhân tôi không quan tâm đến sự sống chết của các ông đạo diễn bà biên kịch, tôi ghét những thứ văn nghệ sinh viên, ghét những thứ bố thí và chen chúc để xin xỏ, tôi không thèm đi xem 1735 Km. Theo trí nhớ mong manh thì trên báo chí lúc đó phim này cũng được giới thiệu khá tích cực, nhưng có vẻ như bị chê nhiều sau khi chiếu. Có lẽ những người ở thời điểm đó quan tâm đến đời sống văn nghệ sẽ nhớ rõ hơn tôi. Nhưng chắc chắn là phim thất bại thảm hại, hãng phim giải tán và nghe đâu bác đạo diễn Nguyễn Nghiêm Đặng Tuấn bị sốc nặng. Người hưởng lợi duy nhất chỉ có quay phim Nguyễn K’Linh.

Phải đến khoảng năm 2007-08, tôi xem bộ mới phim này lần đầu qua DVD, bản DVD hiếm hoi mà may quá ở trung tâm TPD có. Lúc đó đương nhiên tình thế đã khác. Internet tốc độ cao, CD 05 Đinh Liệt cung cấp một nguồn phim dồi dào cho dân thủ đô (torrent và P2P cũng đã có, nhưng cũng mới ở giai đoạn phôi thai thôi, tìm phim không dễ như bây giờ), và tôi thì không những là quan tâm đến phim ảnh mà còn đã kịp quyết định ngừng đến trường kiến trúc rồi. Lúc đầu tôi nghĩ là nó sẽ tệ, những người đã xem ở TPD cũng nói là tệ. Nhưng khi mà những người làm 1735 Km ở thời điểm 2004 chỉ bằng và hơn tôi vài tuổi, họ đã một bộ phim road movie (thể loại khá thử thách về mặt sản xuất), thì là một người đã tự cho rằng mình “đứng trong hàng ngũ của phong trào chung”, tôi vẫn bỏ đĩa vào xem. Kết quả là tôi đã… không thể xem được đến hết phim.

Cái đĩa DVD duy nhất ở TPD bị hỏng ở đoạn gần cuối, khúc cô gái bắt đầu thử váy cưới. Vậy đấy, cho đến giờ tôi vẫn không biết chính xác phim kết thúc như thế nào cả, nhưng có một điều tôi khẳng định là phim không hề tệ như báo chí năm 2005 đã chỉ trích. 1735 Km là một bộ phim có những khung hình đẹp, hiện đại, một chút mộng ảo siêu thực, một chút pha trộn thể loại, chỉn chu với một ngôn ngữ kể chuyện rành mạch. Kịch bản thì có lẽ không phải là đặc biết xuất sắc hay có ý tưởng độc đáo, có lẽ hơi thiếu sức nặng, nhưng thật ra cũng đâu cần phải như vậy mới là đáng quý. Câu chuyện rất dễ thương, sến sến và hình tượng nhân vật điển hình không gần lắm với thực tế, nhưng mà thật sự dễ thương. Và kịch bản như vậy tốt hơn rất nhiều so với một tá phim Tết hậu bối của nó, ngay cả kịch bản của phim Tết tốt nhất năm 2011 – Cô dâu đại chiến, cũng kém hơn 1735 Km rất nhiều. Còn phải nói đến phần nhạc phim hay hiếm có do Võ Thiện Thanh sáng tác với những ca khúc như Em sẽ quay về, Con hạc giấy mang âm hưởng nhạc lounge và britpop. 1735 Km là một bộ phim xuất sắc ở thời điểm 2005, một bộ phim đúng nghĩa xinê, nó xứng đáng nhận được sự tán thưởng, nhận được thành công về doanh số và cả những giải thưởng.

[nhạc] Em sẽ quay về

[nhạc] Con hạc giấy


Tuy nhiên, ở vào giai đoạn tiền sử đó, 1735 Km tiếc thay lại là một cánh chim lạc thời. Những người làm chuyên môn có thể làm ra một sản phẩm tốt, nhưng lúc đó nào đã có nhiều những con người biết làm marketing, làm phát hành cho điện ảnh (những người giỏi giang của năm 2011 lúc đó còn trẻ lắm). Giới truyền thông sau nhiều năm không xem phim, (của đáng tội, muốn xem cũng không có và không biết xem ở đâu), mới chỉ quay lại ngó vào điện ảnh với “dòng phim” Gái của đạo diễn Lê Hoàng, chưa đủ tri thức để đánh giá đúng nghệ thuật làm phim (những người giỏi giang của năm 2011, lúc bấy giờ có người còn đang đeo khăn quàng đỏ). 1735 Km ra đời chỉ từ một đam mê làm phim thuần khiết và ngây thơ đơn độc thì sự thất bại của nó là dễ hiểu. Có thể ví 1735 Km như một “chiến sĩ đã anh dũng hi sinh cho phong trào”, một sự hi sinh để biết bao người khác nhìn vào và rút ra bài học trong những khâu sau cùng của một thương vụ điện ảnh. Và để rồi sau khi có Luật điện ảnh 2006 cởi trói cho những nhà làm phim lão luyện, để họ danh chính ngôn thuận hoá thân vào vai của những người kinh doanh cáo già, họ đã gây dựng một thị trường với những khán giả đang dần dần quen với việc đi xem phim Việt Nam, đã có thể tung ra những con số hàng chục tỷ doanh thu mỗi lần phim ra rạp, thì quay nhìn lại năm 2005 với 1735 Km, khó có ai hiểu chuyện mà không thấy cảm khái phần nào. Nếu nhìn vào bản chất, 1735 Km là phim độc lập, đúng cả định nghĩa lẫn tinh thần, đầu tiên ở Việt Nam chứ không phải Bi, đừng sợ (Phan Đăng Di). Có lẽ lý do để nó thất bại lớn nhất ở đây là để độc lập đi đôi với thiếu thốn các nguồn lực.

Thật ra với những trái nghiệm sống cá nhân, tôi đồng cảm kha khá với số phận của 1735 Km. Hãy thấm thía rằng tài năng hay thành công cũng chỉ là tương đối thôi, ở thời điểm này là vàng đấy nhưng ở thời điểm khác cũng chỉ là rác bên lề đường. Cứ thử ví dụ như giáo sư Ngô Bảo Châu mà sinh ra sớm 100 năm ở nước mình, tài năng toán học của anh cũng chẳng để làm gì.  Hay là như Micheal Bay mà sinh ra ở thời Trung cổ, chắc cũng chỉ đi hát rong kể chuyện qua ngày, chết dấp nơi bờ bụi vì dịch hạch hoặc liều thân đi Thập Tự Chinh kiếm ăn, chứ có ở đó mà đòi thành triệu phú được khối. Có lẽ là hơi quá đà rồi, vì số phận của 1735 Km cũng không đến mức thảm hại như thế, phải không nào? Ít nhất thì bộ phim cũng đã cống hiến được một điều gì đó cho sự trở lại của điện ảnh Việt Nam, cho tương lai của nhiều người.

Cũng là nhân dịp mà tại thành phố Hồ Chí Minh, BHD Star Cinema chiếu lại 1735 Km tại rạp này trong chương trình Những ngày phim Việt của họ. Nếu bạn có điều kiện, hãy thử mua vé đi xem 1735 Km (và cả những phim khác như Trăng nơi đáy giếng, Đừng đốt hay Chuyện của Pao) và tự có những đánh giá theo con mắt của năm 2011. Thật sự, 1735 Km không chỉ có giá trị như một kỷ niệm với đôi ba người nào đó về một thời gần mà xa, mà hơn thế nữa, nó xứng đáng được tôn trọng, được nhìn nhận và đánh giá đúng bởi đông đảo công chúng. Các bạn có thể tham khảo lịch chiếu sau:

Tin tôi đi, ít nhất bạn cũng sẽ không thất vọng !

 
6 Comments

Posted by on 12/03/2011 in On Screen, Reviews, Xtras

 

Tags: , , , ,

Chuyên đề: Phim độc lập [Bài 3]

 

NHỮNG LÀN SÓNG CỦA THẾ GIỚI

 

Dù khái niệm phim ‘độc lập’ là riêng có của nước Mỹ, song có thể nhận thấy những nền điện ảnh khác trên thế giới cũng xảy ra tương tự, dĩ nhiên khác biệt về quy mô và mức độ. Phim độc lập thế giới có thể được hiểu đơn giản theo hai khía cạnh: độc lập về ý tưởng và độc lập về tài chính. Đây là hai mối quan hệ có sự liên quan chặt chẽ với nhau và ‘độc lập’ sẽ luôn là một danh xưng để thể hiện cái tôi phản kháng của các nhà làm phim toàn cầu.

Show Me Love (đạo diễn: Lukas Moodyson)

Show Me Love (đạo diễn: Lukas Moodyson)

Tại lễ trao giải Oscar năm 1998, đạo diễn James Cameron tự hào tuyên bố mình là ‘Vua của thế giới’, Bộ phim Titanic của ông, với kinh phí 200 triệu USD, đắt nhất khi đó, không chỉ phá vỡ kỉ lục doanh thu tại Mỹ mà còn trở thành ‘thần tài’ ở các rạp chiếu trên toàn thế giới. Titanic nhanh chóng trở thành biểu tượng cho sự thống trị của Hollywood ở thị trường giải trí toàn cầu. Thế nhưng, chỉ thời gian ngắn sau đó, những bộ phim như Spirited Away (2001), Show Me Love (1998), hay Shiri (1999) của những nhà làm phim Nhật Bản, Thụy Điển và Hàn Quốc đã xô đổ kỉ lục doanh thu của Titanic tại thị trường những nước này. Thậm chí, ở Ấn Độ – nền điện ảnh ‘mắn đẻ’ nhất thế giới, Titanic chỉ tạo nên ‘gợn sóng lăn tăn đầy thất vọng… trước khi chìm mất tăm’.

Thoát khỏi cái bóng của Hollywood

Hollywood không phải là hình mẫu duy nhất cho điện ảnh thế giới. Hollywood có thể được coi là nền điện ảnh mang nhiều tính giải trí, với những đặc trưng như lối tự sự theo tuyến tính với diễn biến nhanh, các nhân vật có mục đích rõ ràng, những minh tinh màn bạc, kinh phí lớn, kĩ xảo và những cảnh hành động hoành tráng. Nhìn chung, phim Hollywood thường sử dụng nhiều kĩ thuật dàn dựng để tạo ra một ‘ảo ảnh’ của hiện thực và để khán giả dễ dàng theo dõi câu chuyện. Tuy nhiên, có nhiều ý niệm về chủ nghĩa hiện thực (realism) khác cũng rất phổ biến trên thế giới.

Rome Open City (đạo diễn: Roberto Rossellini)

Rome Open City (đạo diễn: Roberto Rossellini)

Đặc biệt ở châu Âu, nơi có truyền thống gắn kết nhất song cũng luôn tìm cách tự tách biệt mình với Hollywood nhất. Chẳng hạn như trào lưu Tân hiện thực (neorealism), trào lưu làm phim ở Ý những năm 1940, thường quay ngoại cảnh, sử dụng diễn xuất tự nhiên, với diễn viên vô danh hoặc nghiệp dư, và tạo ra những hình ảnh ai cũng biết là kinh phí thấp để nhấn mạnh tới sự ‘thực’ của cảnh tượng. Một số ‘chủ nghĩa hiện thực’ tương tự cũng có thể được nhận thấy ở Điện ảnh Iran mới và ‘Điện ảnh song song’ của Ấn Độ. Thậm chí, người ta nhận thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực trong tuyên ngôn ‘về nguồn’ của trào lưu Dogme 1995 ở Bắc Âu (tuyên ngôn của các nhà làm phim muốn tối giản tối đa các kỹ thuật, sử dụng hoàn toàn máy quay cầm tay để diễn tả tính hiện thực của câu chuyện).

Jules and Jim (đạo diễn: Francois Truffaut)

Jules and Jim (đạo diễn: Francois Truffaut)

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu Tân hiện thực và được cách điệu mạnh mẽ, những bộ phim thuộc Làn sóng mới (New Wave) của các ‘tác giả’ (auteur) ở Pháp trong thập niên 1950 và 1960 đã tập trung vào cách tiếp cận ‘lát cắt cuộc sống’ trong khi làm phim và trở thành nguồn cảm hứng lớn cho một loạt Làn sóng mới khác ở châu Âu, và đặc biệt tại Nhật Bản, trong thập niên 1960. Chủ nghĩa hiện thực ngày nay tiếp tục được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như những bộ phim siêu hiện thực như Trainspotting (1996 của Danny Boyle) hay của trào lưu cinema de look ở Pháp hiện tại. Trong khi đó, chủ nghĩa siêu thực cũng vẫn là một lực đẩy sáng tạo mạnh mẽ ở nhiều nơi tại châu Âu, đặc biệt là Tây Ban Nha và CH Séc. Trong khi đó, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng là một dòng chảy mạnh mẽ khác nữa ở các nước Mỹ Latinh.

Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực cũng chỉ là một thủ pháp trong điện ảnh và chủ nghĩa hiện thực phương Tây ‘cũng chỉ là một dải trong lớp quang phổ mĩ học rộng lớn hơn’. Ở châu Á và Trung Đông, những hình thức phổ biến nhất của điện ảnh bản xứ lại có khuynh hướng phản hiện thực, fantasy và mang nặng tính giải trí, chẳng hạn như điện ảnh đại chúng ở Ấn Độ, các bộ phim ‘chưởng’ phổ biến ở Trung Quốc và Hong Kong, hay phim hoạt hình ở Nhật Bản. Xu hướng chung ở điện ảnh châu Á là chối bỏ sự bắt chước thực tại thuần túy, và thông qua nhiều hình thức để biểu hiện rằng thời gian mang tính tuần hoàn hơn là tuyến tính.

 

Độc lập để phát triển

Pigs Battleships (đạo diễn: Shohei Imamura)

Pigs Battleships (đạo diễn: Shohei Imamura)

Có lẽ ngoài Hollywood, các nền điện ảnh châu Á cũng bị ‘kìm kẹp’ nặng nề nhất bởi hệ thống studio. Tuy nhiên, khác với người Mỹ, các xuởng phim tại Nhật lại cho phép đạo diễn và biên kịch nhiều quyền kiểm soát hơn. Chính điều này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của Làn sóng mới của điện ảnh Nhật Bản thập niên 1960, với những tên tuổi như Nagisa Oshima hay Shohei Imamura. Trong thập niên 1970, khi không thể cạnh tranh nổi với các bộ phim Hollywood Mới (áp dụng nhiều thủ pháp làm phim độc lập và phong cách nghệ thuật của điện ảnh thế giới), nhiều studio ở Nhật quyết tâm giành lại khán giả bằng mọi cách, kể cả sản xuất phim khiêu dâm. Nhiều đạo diễn độc lập nổi tiếng nhất nước Nhật ngày nay, như Kiyoshi Kurosawa, cũng từng tham gia làm nhiều bộ phim B như thế. Đơn giản là bởi, dù với điều kiện phải có ít nhất 6 cảnh… sex và thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi với số tiền ít ỏi, họ được toàn quyền tự do sáng tạo nên 1 bộ phim.

Crazy Stone (đạo diễn: Ning Hao)

Crazy Stone (đạo diễn: Ning Hao)

Tại Trung Quốc Đại lục, người hâm mộ điện ảnh nước này đón chào thế hệ đạo diễn thứ 6 cùng nhiều nhà làm phim trẻ khác như Vương Tiểu Soái, Giả Chương Kha, Lâu Diệp đã bước vào ‘độ chín’ trong sự nghiệp. Giờ đây điện ảnh Trung Quốc đã xuất hiện những bộ phim ngầm (underground) với kinh phí cực thấp, được sản xuất bên ngoài hệ thống studio chính thức. Đặc biệt trong một thập kỉ qua, những bộ phim thực hiện bằng máy quay kĩ thuật số như của Vương Binh đã tạo nên cả một Trào lưu Phim tài liệu mới cực kỳ nổi bật và ấn tượng ở Trung Quốc. Trong khi đó, ở điện ảnh Hoa ngữ, những Làn sóng mới ở Đài Loan và Hong Kong cũng mang lại cho người xem những bộ phim có phong vị khác hẳn với thể loại phim hài, võ thuật và xã hội đen đậm tính thương mại khác. Những cái tên như Thái Minh Lượng, Dương Đức Xương, Hầu Hiếu Hiền… đều đã được coi như những nhà làm phim bậc thầy của thế giới.

Life Is Cool ( đạo diễn: Choi Equan & Choe Seung-won), bộ phim hoạt hình Hàn Quốc làm theo kỹ thuật Rotoscope - vẽ trên phim quay người thật

Life Is Cool ( đạo diễn: Choi Equan & Choe Seung-won), bộ phim hoạt hình Hàn Quốc làm theo kỹ thuật Rotoscope - vẽ trên phim quay người thật

Điện ảnh Hàn Quốc phát triển rực rỡ trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, học tập theo nước Mỹ, phim của quốc gia này nhiều về cả số lượng lẫn thể loại, với chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật rất cao. Tuy các nhà kinh doanh điện ảnh xứ Kim chi rất chú trọng vào việc hút khách, nhưng họ cũng dành ra một khoảng không gian rất rộng cho các tài năng trẻ và các đạo diễn thành danh được làm những bộ phim nghệ thuật đặc sắc. Có thể nói khuynh hướng phim độc lập ở Hàn Quốc là rất rõ nét. Tuy vậy, giữa phim độc lập và phim thương mại có sự giao thoa về nhân sự, thậm chí cả nhà sản xuất, cho nên có thể nói hai dòng phim này gắn bó khăng khít như hai bàn tay đan vào nhau vậy.

Pather Panchali (đạo diễn: Satyajit Ray)

Pather Panchali (đạo diễn: Satyajit Ray)

Với hơn 900 bộ phim được sản xuất mỗi năm, với khoảng ¼ trong số này được sản xuất tại Bollywood, có lẽ Ấn Độ là nền điện ảnh năng suất nhất thế giới. Vấp phải ít sự cạnh tranh nhất từ Hollywood, những bộ phim Bollywood mang tính thương mại rất rõ, với motif đơn giản lặp đi lặp lại hết phim này đến phim khác. Chính vì thế, nó lại càng làm nổi bật những bộ phim của ‘điện ảnh song song’ nghệ thuật và ‘auteur’ hơn nhiều hơn của điện ảnh tiếng Bengal hay Malayama, với những cây đại thụ như Satyajit Ray, Ritwik Ghatak, Mrinal Sen, John Abraham…

Nền điện ảnh thứ ba

Chỉ trích phong cách làm phim thuần túy giải trí moi tiền khán giả của Hollywood (Nền điện ảnh thứ nhất) lẫn điện ảnh nghệ thuật xuất phát từ Âu-Mỹ (Nền điện ảnh thứ hai) là quá tập trung vào những biểu hiện cá nhân của đạo diễn-‘tác giả’, trào lưu ‘Nền điện ảnh thứ ba’ xuất hiện mạnh mẽ tại Mỹ Latinh thập niên 1960-1970 qua bản tuyên ngôn đanh thép ‘Hướng đến một nền điện ảnh thứ ba’.

El Viaje (đạo diễn: Fernando Solanas)

El Viaje (đạo diễn: Fernando Solanas)

Trong bản tuyên ngôn này, hai đạo diễn người Argentina, Fernando Solanas và Octavio Getino đã đưa ra những khái niệm phân biệt Nền điện ảnh thứ nhất (điện ảnh thương mại, của các studio dựa theo hình mẫu Hollywood), Nền điện ảnh thứ hai (điện ảnh nghệ thuật châu Âu và điện ảnh tác giả), và Nền điện ảnh thứ ba. Ở đây, Nền điện ảnh thứ ba bác bỏ quan điểm coi điện ảnh là một phương tiện bày tỏ quan điểm cá nhân, mà thay vào đó, đạo diễn chỉ là một phần của tập thể, và tính chiến đấu mạnh mẽ trong phim đóng vai trò tối quan trọng. Chủ lực của ‘Nền điện ảnh thứ ba’ là các nhóm làm phim Grupo Cine Liberación ở Argentina, Cine de la Base của Raymundo Gleyzer, Cinema Nôvo ở Brazil, điện ảnh cách mạng Cuba và đạo diễn Bolivia Jorge Sanjinés.

Bất chấp việc suy tàn của các nền điện ảnh chính trị hóa trong thập niên 1970, ý niệm về Nền điện ảnh thứ ba vẫn là nguồn cảm hứng lớn cho nhiều trào lưu làm phim đương đại. Và với tư cách là một hình thức làm phim xuyên quốc gia, Nền điện ảnh thứ ba dứt khoát đã đặt một nền móng quan trọng cho ‘điện ảnh thế giới’.

 

Đào Diệu

 
4 Comments

Posted by on 15/02/2011 in Features

 

Chuyên đề: Phim độc lập [Bài 2]

 

LƯỢC SỬ PHIM ĐỘC LẬP HOA KỲ

 

Như đã nói ở bài trước, phim độc lập ngày nay được định nghĩa là những bộ phim không đựơc sản xuất bởi hệ thống Hollywood mà đứng đầu là 6 hãng phim lớn (Big Six). Tuy nhiên, sự thật thì truyền thống phim độc lập đã kéo dài từ trước khi Kinh đô điện ảnh ra đời ở bang California.

Nhà phát minh, nhà tư bản Thomas Alva Edison - Cha đẻ của điện ảnh Hoa Kỳ

Nhà phát minh, nhà tư bản Thomas Alva Edison - Cha đẻ của điện ảnh Hoa Kỳ

Đầu thế kỷ 20, nhà phát minh và cũng là nhà kinh doanh Thomas Edison, người  nắm toàn bộ bản quyền liên quan đến phim nhựa trong tay, đã liên minh tất cả các hãng phim lớn nhất thời đó và công ty sản xuất phim nhựa Eastman Kodak vào một hiệp hội thường gọi là Edison Trust. Hiệp hội này có tham vọng kiểm soát toàn bộ các sản phẩm phim ảnh đã tạo ra một làn sóng phản đối của các nhà làm phim nhỏ lẻ. Để tránh  các điều luật Liên bang có lợi cho Edison Trust, họ đã tránh xa đại bản doanh New Jersey của Edison và rời đến một nơi sau này trở thành kinh đô điện ảnh ở bang California. Chính những nhà độc lập tiên phong này đã tạo ra Hollywood chứ không ai khác và cuộc chiến đầu tiên của điện ảnh độc lập chống lại sự độc quyền của Edison được lịch sử ghi nhận là một chiến thắng huy hoàng : Kinh đô điện ảnh thế giới đã ra đời.

Ngôi sao nữ sáng nhất của thời đại phim câm, nhà  làm phim độc lập tiên phong Mary Pickford

Ngôi sao nữ sáng nhất của thời đại phim câm, nhà làm phim độc lập tiên phong Mary Pickford

Thế nhưng trong thời kỳ hoàng kim trước khi truyền hình ra đời, hệ thống Hollywood (đứng đầu là Big Five, 5 hãng phim lớn nhất thời bấy giờ : MGM, Paramount, 20th Century Fox, Warner Bros và RKO) lại thay chân Edison trở thành con cá mập độc quyền khi các hãng phim kiểm soát cả hệ thống phát hành và các rạp chiếu. Và chính những con người đã làm nên Hollywood là các ngôi sao Charlies Chaplin, Douglas Fairbanks, Mary Pickford và đạo diễn đầu tiên làm phim ở kinh đô điện ảnh từ khi nó chỉ là một làng nhỏ, David Griffith, đã cùng nhau lập nên hãng phim United Aritist để có vị thế riêng đối với các hãng lớn. Tuy nhiên, vì điện ảnh đến thời kỳ này đã tương đối phát triển, các bộ phim được làm với tiêu chuẩn cao hơn, UA đã không thể đạt được mục tiêu sản xuất như mong muốn. Và đến khi thời phim câm kết thúc, Fairbank và Pickford cũng giã từ sự nghiệp diễn viên, nguồn tài chính ngày một có hạn, nên dù rất cố gắng bằng nhiều cách, UA cũng phải chấm dứt hoạt động.

Nhà làm phim kỳ cựu của dòng phim Loại B - George Romero

Nhà làm phim kỳ cựu của dòng phim Loại B - George Romero

 

Phải cho đến khi các máy quay phim nhỏ gọn được phát minh, việc sản xuất phim không còn nhất thiết cần đến các trang thiết bị đắt tiền hay nguồn tài chính khổng lồ, thì gần như bất cứ ai muốn làm phim đều có thể làm được tác phẩm của riêng mình. Từ đây cũng ra đời khái niệm phim kinh phí thấp, với vốn đầu tư nhỏ nhưng vẫn đủ để các nhà làm phim như Maya Deren, Kenneth Angers … có thể làm ra những tác phẩm nghệ thuật đậm chất cá nhân. Ảnh hưởng của họ lan sang cả Châu Âu và thành nguồn cảm hứng cho phong trào Làn Sóng Mới sau này. Tuy nhiên, phim kinh phí thấp không chỉ là những bộ phim đậm tính nghệ thuật, còn phải kể đến một dòng phim độc lập khác được làm với mục đích kéo càng nhiều khán giả đến rạp càng tốt. Đó chính là các phim Loại B với những cảnh bạo lực, kinh dị đậm đặc, gây shock nhưng cũng gây nghiện đối với công chúng. Nhưng phim Loại B không đơn thuần chỉ là câu khách, những nhà làm phim Goerge Romero và nhất là cha đẻ của phim Loại B Roger Corman ghi danh vào lịch sử điện ảnh với những sáng tạo đặc sắc trong thủ pháp và kỹ xảo. Phim Loại B với khả năng thu hút khán giả trẻ đã thật sự giáng một đòn mạnh vào hệ thống Hollywood và các ông trùm đã phải nghĩ ra hệ thống kiểm soát nội dung MPAA để hạn chế bớt khán giả của phim Loại B, tất nhiên là sau lá cờ đạo đức : không để những khán giả quá nhỏ tuổi được xem những cảnh bạo lực.

Đạo diễn kiêm nhà sản xuất Francis Ford Coppola, đại diện tiêu biểu của Hollywood Mới

Đạo diễn kiêm nhà sản xuất Francis Ford Coppola, đại diện tiêu biểu của Hollywood Mới

Tuy đối đầu như vậy, nhưng các hãng Hollywood cũng nhanh chóng nhận ra hạn chế mình ở phân khúc khán giả trẻ. Tất yếu các ông chủ đã phải vời đến những nhà làm phim trẻ từ giới độc lập đến làm phim cho mình, đó chính là những cái tên ngày nay đã lẫy lừng : Goerge Lucas, Francis Ford Coppola và Steven Spielberg. Phim của họ, với nội dung mới mẻ và hấp dẫn đã giúp hồi sinh Hollywood và những nhà làm phim này được mệnh danh là Hollywood Mới. Chính họ đã dạy lại Hollywood những bài học kinh doanh như làm phim phần tiếp (sequel), làm các sản phẩn ăn theo phim và tin tưởng vào những ý tưởng mới mẻ như Star Wars. Và dù cho làm việc trong hệ thống Hollywood, họ phần nào vẫn là các nhà làm phim độc lập bằng cách sản xuất phim với công ty riêng như Goerge Lucas với Lucasfilm và sau này là Spielberg với Dreamworks. Những con người này không chỉ thay đổi Hollywood, họ còn thay đổi cả cách chúng ta nhìn nhận về phim ảnh và tạo ra những cơn bão phim bom tấn từ đây trở về sau.

Đạo diễn Paul Thomas Anderson

Đạo diễn Paul Thomas Anderson

Bên ngoài Hollywood, từ cuối thập niên 70, các nhà làm phim độc lập hoạt động ngày càng sôi nổi. Một điều luật Liên bang nghiêm cấm các Hãng phim sở hữu rạp chiếu đã tạo ra cánh cửa để họ có thể làm phim mà không lo bị các ông chủ cỡ bự chèn ép. Và khi mà Hollywood cũng không còn đối đầu mạnh mẽ với những nhà làm phim bên ngoài, thì làm một bộ phim độc lập để đời chính là con đường đưa các nhà làm phim trẻ đến với những dự án lớn hơn ở Kinh đô điện ảnh. Từng thế hệ qua David Lynch, Jim Jarmush, Gus Van Sant, Quentin Tarantino, Steven Soderberg, Paul Thomas Anderson … xuất hiện hàng ngàn những tài năng trẻ là nguồn bổ xung sức sáng tạo cho Hollywood. Tuy nhắm đến mục tiêu lớn, các nhà làm phim độc lập vẫn song song thực hiện các ý tưởng thuần túy cá nhân, giàu chất sáng tạo và không bị thuộc vào các công thực kịch bản ăn tiền, lớp công chúng của điện ãnh cũng đã đủ chất lượng để những tác phẩm như thế có đủ khán giả và không ít phim đã giành những thắng lợi rực rỡ về mặt doanh thu như Blair Witch Project (kinh dị), El Mariachi (hành động) hay Little Miss Sunshine (tâm lý). Không chỉ là những bộ phim độc lập được đầu tư quy mô lớn như Star Wars hay Kill Bill, trước khuynh hướng không thể đảo ngược, bản thân các hãng lớn cũng phải tạo ra các chi nhánh chuyên trách về dòng phim phi thương mại (như Universal với Focus, Warner Bros với Warner Independence, vừa để đỡ đầu cho các tài năng trẻ, vừa tận thu được phân khúc khán giả có đòi hỏi thẩm mỹ cao hơn các phim bom tấn mùa hè. Ngoài ra còn những hãng phim độc lập có danh tiếng Weinstein, Samuel Goldwyn, Tartan, Lion Gate, hàng năm vẫn sản xuất và phát hành hàng trăm phim, bien giới giữa một phim độc lập và một phim Hollywood chính thống gần như chỉ còn rất mong manh.

 

Poster bộ phim trinh thám Gone Baby Gone, đạo diễn bởi Ben Afleck

Poster bộ phim trinh thám Gone Baby Gone, đạo diễn bởi Ben Afleck

Ngày nay trong phong trào phim độc lập ở Mỹ, còn có thêm một số hiện tượng thú vị để kể. Ví dụ như các nhà làm phim không có quốc tịch Hoa Kỳ được mời đến đất nước này để làm phim, như Wim Wenders, Emir Kusturica , Danny Boyle hay cái tên đang toả sáng rực rỡ là Christopher Nolan ( theo chiều ngược lại, không ít tên tuổi lại đi khỏi nước Mỹ vì nhiều lý do khác nhau như Stanley Kubrick hay David Lynch). Ngoài ra một số diễn viên ngôi sao cũng bạo dạn trở thành các nhà làm phim độc lập như Ben Aflec, George Clooney hay Drew Barymore… Những tên tuổi đó hoà cùng với hàng ngàn nhà làm phim trẻ phần nào còn vô danh, làm nên những mầu sắc phong phú và hấp dẫn của các kỳ Liên hoan phim Sundance, các giải thưởng Independent Spirit Awards.

 

YoutaM

 
Leave a comment

Posted by on 14/02/2011 in Features

 

Chuyên đề: Phim độc lập [Bài 1]

PHIM ĐỘC LẬP LÀ GÌ ?

Những năm gần đây, công chúng được nghe nói nhiều đến cụm từ Phim độc lập (Independent/Indie films). Có thể nói, đối với những người yêu điện ảnh, cụm từ này có sức hút đặc biệt, bởi nó mang lại cảm giác ngang tàng, dũng cảm và ẩn sau sẽ là sức sáng tạo mãnh liệt. Những cảm giác trên hoàn toàn đúng vì đã từ lâu, Phim độc lập đã trở thành biểu tượng của những gì là động lực cho sự phát triển về chất của điện ảnh trên toàn thế giới. Tuy nhiên, chúng ta không tránh khỏi việc phủ lên các biểu tượng một lớp sương mờ mang tính huyền thoại. Với bài viết này, chúng tôi muốn vén bức màn bí ẩn để có thể thấy: Tinh thần độc lập thật sự gần gũi với mọi người.


Vì sao gọi là độc lập?

Trước hết, khái niệm Phim độc lập là một khái niệm khởi nguồn từ Hoa Kỳ. Và chỉ có ở nước Mỹ mới có cái gọi là Phim độc lập thật sự. Tại sao lại vậy ? Đó là vì bản thân nghĩa đen của Phim độc lập chỉ là: Những bộ phim được sản xuất bởi những hãng phim nhỏ không nằm trong hệ thống studio của Hollywood mà đứng đầu là sáu hãng phim lớn nhất hiện thời: Universal, Warner Bros, Walt Disney, Columbia, 20th Century Fox, Paramount. Sáu hãng trên (Big Six) thuộc sở hữu của những tập đoàn truyền thông khổng lồ, có tiềm lực tài chính gần như vô hạn, ôm trọn 90% doanh số hàng năm của điện ảnh toàn cầu. Như vậy, các quốc gia khác không có một hệ thống tương đương để so sánh thì sẽ không có phim độc lập thật sự. Nhưng mặt khác, vì quyền lực của Hollywood quá lớn, nên khi đặt cạnh họ có thể coi tất cả phần còn lại của thế giới đều đang làm phim độc lập.

Như vậy, cụm từ “Phim độc lập” chỉ có ý nghĩa phân biệt đơn vị sản xuất, không khẳng định chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Tuy nhiên, vì khi làm phim độc lập, các nhà làm phim không hoặc ít bị áp lực thu hồi doanh thu chi phối nên họ được tự do thể hiện ý tưởng, được đề cao cái tôi sáng tạo của mình. Hãy nhớ rằng, với Hollywood, nhà sản xuất luôn có quyền chi phối định hướng của bộ phim chứ không phải đạo diễn. Cho nên, phim độc lập thật sự là một cơ hội sổ lồng của các đạo diễn ra khỏi những đòi hỏi ngặt nghèo của các thương vụ điện ảnh. Hệ quả của việc đó, phim làm ra thường có được ấn tượng mạnh cho các phá cách và thể nghiệm mang tính nghệ thuật thuần túy.

Nhà làm phim thử nghiệm Maya Deren

Nhà làm phim thử nghiệm Maya Deren

 

Độc lập = nghệ thuật?

Tuy nhiên thế nào là nghệ thuật? Nếu xét theo quan điểm: Phim nghệ thuật nhất định phải là một bộ phim tâm lý, mô tả những bi kịch và sự vật lộn của nội tâm con người, thì phim độc lập không chỉ giới hạn như vậy. Người Mỹ đã làm phim độc lập đối với tất cả các thể loại, với số lượng đề tài không thể thống kê nổi. Đó có thể là phim thử nghiệm avant-garde như của Maya Deren, nhưng cũng có thể là phim Loại B của Roger Corman. Trong đó phim Loại B là một trường hợp thú vị.

Dòng phim B ra đời khi mà các thiết bị quay phim đã được cải tiến gọn nhẹ hơn, rẻ hơn và không nhất thiết phải đầu tư lớn mới làm được phim. Những người tiên phong như nhà làm phim Roger Corman đã sử dụng những hình ảnh đậm đặc chất bạo lực và kinh dị – việc mà Hollywood chưa dám làm lúc đó – để lôi kéo khán giả đến rạp, nhất là khán giả trẻ. Và Hollywood thật sự đã phải giật mình nhận ra những bộ phim nuột nà của họ, thiếu hấp dẫn như thế nào trong mắt của phân khúc khán giả trẻ tuổi, khi đối tượng có nhu cầu xem phim nhất này tò mò và thích thú với những phim Loại B. Nhưng phim Loại B thật ra là gì? Một vài là các bộ phim có những sáng tạo đặc biệt (nhất trong về kỹ xảo), nhưng phần lớn chỉ là những cảnh máu me vô lối, gây shock lộ liễu, trên nền các câu chuyện chắp vá tạm bợ. Đó cũng là một nhánh của phim độc lập và khuynh hướng này ảnh hưởng đến tận những tên tuổi lẫy lừng hiện nay như Quentin Tarantino và Robert Rodrigez, hai nhà làm phim độc lập chuyên trị thể loại hành động/ tội phạm đầy chất bạo lực đường phố.

Nhà sản xuất kiêm đạo diễn Roger Corman, cha đẻ của phim Loại B

Nhà sản xuất kiêm đạo diễn Roger Corman, cha đẻ của phim Loại B

Ví dụ trên cũng cho thấy, các nhà làm phim độc lập cũng không hẳn là không quan tâm đến doanh số. Rất khó để có thể làm phim nếu như cứ làm là mắc nợ. Chẳng hạn Robert Rodriguez làm bộ phim El Mariachi với mục tiêu đánh vào thị trường băng video Mexico, nhằm thu lại được khoản tiền đầu tư mà ông phải bán mạng kiếm ra khi làm vật thí nghiệm dùng thử dược phẩm mới, chứ chẳng phải vì một liên hoan phim danh giá nào. Trên thực tế, Hollywood đã từng có thời lao đao khốn đốn vì có quá nhiều các bom tấn biến thành bom xịt trong những năm 60, và họ phải vời đến các nhà làm phim độc lập như Goerge Lucas, Francis Ford Coppola, Steven Spielberg để giúp hồi sinh lại kinh đô điện ảnh. Họ đã dạy lại cho Hollywood không chỉ một vài bài học quý giá về kinh doanh như làm phim phần kế tiếp (sequels), thương mại hóa các sản phẩm ăn theo như đồ chơi, sách truyện, album nhạc phim.

Nhà sản xuất kiêm đạo diễn George Lucas

Nhà sản xuất kiêm đạo diễn George Lucas

 

Bài học quan trọng nhất chính là phải luôn nắm bắt được nhu cầu liên tục thay đổi của khán giả, và khán giả thì ngày một đa dạng về yêu cầu thưởng thức. Ngay cả những bộ phim thử nghiệm khó nhằn nhất của các chàng trai độc lập cũng có khán giả riêng. Thậm chí, họ còn rất bạo chi đối với những tác phẩm không được phát hành rộng rãi vì tính chất hiếm của chúng. Vì thế, tuyệt đối không nên để lỡ nhóm khách hàng “chịu chi” này. Hệ quả, tất cả các hãng phim lớn đều đã “đẻ ra” ít nhất một chi nhánh chuyên trách về đỡ đầu và phát hành phim độc lập như Warner Independence của Warner Bros, Focus Feature của Universal…

 

Kinh phí thấp = độc lập?

 

Đạo diễn Steven Soderberg

Đạo diễn Steven Soderberg

Còn một tính chất khác của phim độc lập hay được nhắc đến nhưng cũng không hoàn toàn đúng, đó là kinh phí thấp. Trong hầu hết các trường hợp thì đúng như vậy, nhưng đừng bất ngờ khi các siêu phẩm như loạt phim Star Wars, loạt phim Indiana Jones là những phim độc lập. Mặc dù có sự hỗ trợ lớn về tài chính của các hãng cỡ bự, những bộ phim trên đều được sản xuất bởi Lucasfilm của Goerge Lucas. Lý do cho việc này là những bom tấn này ra đời trong thời kỳ mà Hollywood phải dựa dẫm vào những tài năng trẻ để hồi sinh, vì thế họ có cơ hội để làm những bộ phim độc lập một cách chính thống như vậy. Thời kỳ gần đây cũng có những trường hợp tương tự, tất nhiên là với quy mô nhỏ hơn.

Ví dụ như là phim Kill Bill của Quentin Tarantino, sản xuất bởi hãng phim Miramax khi đó còn thuộc sở hữu của anh em nhà Weinstein. Hoặc chẳng hạn như bài viết đăng trên tờ Variety số ra ngày 9/6/2003 đã dẫn lời của Graham King, người đứng đầu Initial Entertainment Group, về dự án mới của hãng này, The Aviator (Scorsese, 2004) như sau: “Đây là phim độc lập lớn nhất từng được sản xuất, trừ phi tính cả Lord of the Rings”. Thậm chí, hơn một năm trước đó, tờ Screen International công bố bảng xếp hạng Top 20 phim độc lập hay nhất mọi thời đại (ở thị trường Mỹ) mà đứng đầu là The Lord of the Rings: The Fellowship of the Ring (Jackson, 2002). Rõ ràng với kinh phi 115 triệu USD cho The Aviator hay 300 triệu USD cho cả ba phần The Lord of the Rings, con số không thể coi là “thấp” được.

 

 

Đạo diễn Peter Jackson của Lords of the Rings

Đạo diễn Peter Jackson của Lords of the Rings

 

Tóm lại, phim độc lập tuy không nhất thiết phải rất vị nghệ thuật nhưng lại luôn luôn có đầy sự sáng tạo. Lịch sử điện ảnh vẫn ghi nhận phim Loại B, không chỉ vì những cách thể hiện đột phá và những sáng tạo trong kỹ xảo đăc biệt, mà còn bởi những nhà làm phim độc lập như thế sáng tạo ra một cách thức kêu gọi đầu tư, cũng như cách thu hồi doanh số hiệu quả đến mức làm thay đổi cả ngành công nghiệp này tại Hoa Kỳ. Tinh thần sáng tạo trong mọi góc độ của họ được gói gọn lại trong cụm từ Tinh Thần Độc Lập. Đây cũng là tên của một giải thưởng hàng năm được ví như Oscar của phim độc lập – Independent Spirit Awards – trao cho những sáng tạo nghệ thuật. Nhưng hãy nhớ một điều, chính giải thưởng này cùng với Sundance Film Festival cũng mở ra nhiều cơ hội hơn cho các tác phẩm được giải đến với thành công tiếp theo trên cuộc chiến thị trường. Đó mới là đầy đủ các lý do mà giới làm phim trên toàn thế giới khâm phục và học hỏi những nhà làm phim độc lập Mỹ.

 

YoutaM

(Có sử dụng một phần tư liệu của Đào Diệu)

 
Leave a comment

Posted by on 14/02/2011 in Features

 
 
%d bloggers like this: