RSS

Category Archives: Directors

Phillip Noyce: Backroads to Hollywood (trích)

Lời tựa: Dưới đây là đoạn trích từ cuốn sách Backroad to Hollywood (tên gốc: Phillip Noyce: Backroads to Hollywood) do tôi (Moonie Mun) và một số bạn khác cùng dịch (trong đó có Quỳnh Hà). Sách sẽ được phát hành trong tháng 5. Phillip Noyce có thể không phải là một đạo diễn đi vào huyền thoại nước Mỹ, nhưng ở nước Úc quê hương, ông được coi như một niềm tự hào. Đoạn trích này nói về khoảng thời gian Noyce bắt đầu biết tới điện ảnh và quyết định trở thành một nhà làm phim. Tôi nghĩ rằng đoạn trích này sẽ giúp cho các bạn (đặc biệt là những bạn hiện đang làm phim ngắn) hình dung rõ hơn về con đường trở thành đạo diễn của một người hiện đã thành công, tất cả cũng bắt đầu từ số 0, trong một hoàn cảnh đất nước còn nhiều định kiến, rào cản không khác chúng ta lúc này là bao nhiêu. 

Trong đoạn trích sau, những đoạn bôi nghiêng là lời của tác giả cuốn sách – Ingo Petzke, còn các đoạn không bôi nghiêng là lời của Phillip Noyce.

Vào tháng Tám năm 1968, một vài tháng trước khi tôi tốt nghiệp trung học, tôi đánh bạo bước vào khu phố cổ từ khu ngoại thành trung lưu của mình ở Wahroonga. Tôi nhìn thấy một tấm áp phích trên cột điện thoại quảng cáo về những bộ phim “ngầm” của Mỹ. Có một hình vẽ màu xanh đẹp đẽ đầy mê hoặc trên tấm áp phích mà sau này tôi phát hiện ra là được thiết kế bởi một nhà làm phim người Úc tên là David Perry. Từ “ngầm” khơi gợi lên tất cả niềm hứng thú của một cậu bé mười tám tuổi cuối thập niên sáu mươi: trong một thời đại mà cứ bị kiểm duyệt thì hứa hẹn sẽ có cảnh khêu gợi, có lẽ vậy; một thời đại mà nơi cấm ma túy thì hứa hẹn sẽ có thể kiếm được marijuana, hay thậm chí những thứ nặng đô hơn; trong một thời đại mà sự đối đầu giữa các phụ huynh bảo thủ và những đứa con chịu ảnh hưởng của bùng nổ dân số hậu chiến đang diễn ra, nó hứa hẹn một nơi mà bất kỳ ai cũng có thể sánh vai với những người đồng chí hướng và âm mưu ngầm phá những thiết chế xã hội, điều mà có vẻ như là mục đích sống của tất cả những người dưới 30 tuổi thời đó.

Cha mẹ tôi lớn lên trong thời kỳ suy thoái kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ hai và điều mà thế hệ họ muốn là mua được một căn nhà, có ba đứa con và sống thật tĩnh lặng. Và vì thế điều mà tất cả con cái của họ muốn là không sống trong một căn nhà vùng ngoại ô, không sống tĩnh lặng. Những giá trị thủ cựu đó phải được hoàn toàn loại bỏ.

“[Vì vậy] vào đầu tháng Chín năm 1968, tôi tham gia vào một nhóm chen chúc ở Union Theatre và ở đó tôi xem mười bảy bộ phim ngắn được Ubu sưu tập. Chính vào đêm đó tôi cho rằng toàn bộ thái độ của tôi về nghệ thuật, toàn bộ thái độ của tôi về điện ảnh – trên thực tế là toàn bộ cuộc đời tôi – đã thay đổi.

Tôi tới đấy để hóng chút giật gân, xem mười bảy bộ phim và rồi sau đó lắng nghe mấy người quảng cáo trong phòng giải lao. Tôi đã rời khỏi rạp chiếu trong đêm đó với suy nghĩ, “Mình sẽ làm phim như vậy. Mình có thể làm được.” Đây dường như là phong cách mà điện ảnh nói với tôi. Đó là sự tức thời, trực tiếp, cá nhân và phi thương mại. Nó được nhắm tới sự bộc lộ cá nhân, không phải lợi nhuận, nó riêng tư, trái ngược lại với tính tập thể, nó là sự tự do đầy phong cách, nó dường như chỉ yêu cầu một chút ít kinh phí, sự cách tân làm chìa khóa chủ đạo. Đó hoàn toàn là thứ mỹ thuật phi-Hollywood; nó được khởi động trên một tầng bậc đầy bản năng mà thường là cốt truyện phi tuyến tính và na ná với những hình ảnh gây ra ảo giác vốn đang là mốt thời đấy – cho dù đó là âm nhạc, nghệ thuật hay trong những họa tiết trên tấm áo sặc sỡ của bạn. Những bộ phim đó đã nói với tôi như vậy.

Khái niệm “phim ngầm” được lấy từ một bài trên tạp chí Time xuất bản năm 1968 có tiêu đề “Đi lên từ Ngầm”. Đây là một phong trào chống lại Hollywood dựa trên việc phát minh ra máy quay dễ di chuyển, thứ có thể cầm trên tay, ngược lại với loại máy móc cồng kềnh cần thiết cho phim Hollywood, và đồng thời dựa trên nguồn cung cấp phim rất nhạy sáng như phim Kodak 4x, thứ loại bỏ được những dụng cụ chiếu sáng đắt đỏ.

Riêng ở Mỹ, một nhóm các nhà làm phim tập hợp lại trong những năm 1950 và thành công vượt bậc vào thập kỷ 1960, những người không làm phim để cung cấp cho mạng lưới phát hành, mà chỉ để bộc lộ quan điểm cá nhân. Và họ thành lập nên một hiệp hội để phát hành loại phim này. Ở New Yorks, Jonas Mekas, người làm phim The Brig, và anh trai ông, Adolphus Mekas, đã khởi đầu cho Hiệp hội các nhà làm phim New York, và rồi có một hiệp hội ở San Francisco, Hiệp hội Các nhà làm phim Canyon.

Điều tôi thấy là một nhóm các phim thường được làm mà chẳng tốn kém gì mấy. Tôi nghĩ bộ phim rẻ nhất chỉ mất 10 đô la. Không bộ phim nào có yếu tố khiến bạn liên tưởng tới những tiêu chuẩn sản xuất của Hollywood. Nhưng, chúng cũng không phải là sản phẩm của mấy nhà sản xuất xúc xích ở Los Angeles làm lấy được để cung cấp cho những cái miệng đói ăn trên khắp thế giới.

Từ rạp chiếu phim chật như nêm này tôi nhận ra rằng Ubu Films đang quảng cáo một thể loại phim nào đó với thế giới văn hóa hạ cấp của đám người mang cái vẻ nghệ sĩ giả cầy huênh hoang. Có vẻ như bạn có thể móc hầu bao bất cứ ai cho những trò giải trí vô lối, miễn là bạn quảng cáo nó đúng cách.

“… Tôi tới Union Theatre nhiều đêm sau đó, thu gom nhiều tài liệu, tờ rơi và bài báo, cũng như những thứ rơi rớt khác của những gã từ Ubu. Và tôi phát hiện ra rằng tia sáng dẫn đường trong Ubu Film, có vẻ như là ba người – Aggy Read, Albie Thoms và David Perry… [Họ] đều có ria mép và… có vẻ như tới từ tầng hầm của một căn thuộc dãy nhà liên kế ở Redfern. Xem tất cả những bộ phim ấy trong đêm đó, thu nhận được tất cả những thông tin, tôi đã ngay lập tức bị ba nỗi khao khát mạnh mẽ tóm lấy. Trước hết, tôi muốn có ria mép; thứ hai, tôi muốn sống trong một căn nhà liên kế trong nội thành thành phố, và thứ ba, tôi muốn trở thành một nhà làm phim.”

Với lòng quyết tâm rất đặc trưng của Noyce, sau khoảng khắc khai sáng đó, ông ngay lập tức liên hệ với “những anh chàng ở Ubu”, những bậc thầy được biết tới trong thế giới phim ngầm ở Úc. Thoms nhớ lại: “Anh ấy tới văn phòng của chúng tôi ở Redfern để sắp xếp một buổi chiếu các bộ phim của tôi ở trường Barker của anh ấy. Tôi nhớ rằng anh ấy bước vào trong văn phòng với bộ đồng phục và va đầu chỗ cầu thang bởi chiều cao quá khổ của mình, đánh rơi cả cái mũ rơm. Đáng chú ý là buổi chiếu phim đó là để gây quỹ cho một trường mẫu giáo dành cho thổ dân, và rằng trường của anh ấy sẽ kiểm duyệt vài bộ phim.” Noyce từ đó thường xuyên tham dự các buổi họp mặt hàng tuần được tổ chức bởi các nhà làm phim trẻ.

Tôi nhận ra có rất nhiều người giống mình, muốn được làm phim ngắn, để thể hiện bản thân, nhưng đồng thời cũng là một kiểu của dân tộc chủ nghĩa. Chúng tôi muốn ghi lại hình ảnh của chính đời sống mình, hình ảnh nước Úc. Chúng tôi muốn làm phim Úc. Aggy, Albie và David khuyến khích tất cả mọi người hãy đi và làm một bộ phim cho chính mình.

Năm tháng sau đó, trong những ngày nghỉ sau tốt nghiệp cấp ba và chuẩn bị vào đại học, tôi nhận được công việc đào cống rãnh cho Water Board ở Sydney. Công việc này giúp tôi dành dụm một khoản tiền để làm phim ngắn. Trong những ngày nghỉ, tôi đã tới xem những buổi chiếu phim khác và gần như đã bắt đầu làm việc với những anh chàng đó. Họ cũng có một công ty chuyên tổ chức các buổi trình diễn với ánh sáng.

Họ đã bắt đầu cho in một tờ báo kiểu văn hóa lập dị gọi là Ubu News. Một cách khác để tôi kiếm được tiền cho bộ phim đầu tay là đi bán tờ báo đó, và tôi gần như là người bán báo Ubu News đắt hàng nhất. Trên thực tế, tôi đã bị bắt vì bán tờ báo này. Trong một số báo có mục quảng cáo cho quần jean Levi’s, có hình một gã đang cố gắng úp cái quần lên đầu, vì thế dương vật của anh ta cứ thế phô ra, chuyện này đã bị cảnh sát kết tội là khiêu dâm. Tôi đã bị kết án là có tội và hưởng án treo, trong vòng một năm hay sao đó, vì đã xuất bản những ấn phẩm không đứng đắn. Trong lời buộc tội trình lên quan tòa, người khởi tố thậm chí còn đề cập tới Bài thuốc của Phil.

Đó là tên tờ báo của riêng tôi. Trong vòng vài tháng, tôi đã đến nói chuyện ở Domain. Domain giống như Speaker’s Corner ở Luân Đôn. Vào mỗi Chủ nhật, một số lượng lớn người diễn thuyết sẽ tới khu vực trước Khu trưng bày Nghệ thuật của New South Wales, xếp hộp hoặc bậc thang rồi cứ đứng đó nói về bất cứ chủ đề nào mình thích. Đó thật là một cách giải trí tuyệt vời vào chiều Chủ nhật khi tới đó và tranh cãi với họ. Có một gã tên là Webster, khá nổi tiếng vì có tài kể chuyện; gã cũng bán một tờ báo vào mỗi chủ nhật. Tôi thấy gã bán được bao nhiêu là báo, và nghĩ, “Chà, đây là một ý tưởng hay. Mình sẽ có tờ báo của riêng mình.” Vì thế tôi bắt đầu xuất bản Bài thuốc của Phil. Bạn sẽ phải diễn thuyết vài giờ đồng hồ, nhưng điều bạn thực sự muốn là bán báo của mình. Và bạn có thể bán được 500 tờ. Quả là một vụ làm ăn béo bở. Vì thế, vào mỗi Chủ nhật trong vòng vài ba tháng, chúng tôi đã làm vậy.

Tôi nhận ra rằng những người tới những chỗ như vậy cũng muốn được giải trí. Chủ nhật tiếp theo tôi quay lại và nhận thấy mọi người đang ngồi ở chỗ tôi đã diễn thuyết hôm trước và đợi tôi. Tôi nghĩ, “Hay thật! Nói gì người ta cũng nghe.” Về cơ bản, thứ lý thuyết mà tôi hô hào có một phần là niềm đam mê thực sự – như là tuyên bố chống lại cảnh sát và chống lại kiểm duyệt – và một phần được bịa ra để gây ấn tượng và tạo sự khó chịu trong công chúng. Đó là cách để bạn bán báo. Nếu bạn có thể làm cho khán giả bức xúc, thì tranh cãi sẽ được tiếp tục và đồng thời kéo dài thêm được chừng nửa giờ cho “đồng bọn” bán thêm được một ít báo. Ví dụ, một mánh mà tôi thấy rất có ích cho việc làm ăn là tôi ủng hộ rằng bất cứ những ai hơn 60 tuổi mà không làm được gì nữa thì nên bị xử tử. Tất nhiên, tất cả những người già đồng loạt đứng dậy gào thét, la ó. Thế là chúng tôi bán được nhiều báo hơn.

Sau đó, tôi buộc phải từ bỏ bởi cảnh sát tới bắt tôi sau khi tôi xuất bản những bài thơ khiêu dâm mà tôi lấy từ Tuyển tập các bài thơ khiêu dâm của Penguin. Tôi đã được nghe từ một chương trình phát thanh nào đó rằng vài bậc phụ huynh than phiền về tờ báo của tôi, thứ mà con cái của họ đã mua. Tôi biết thời của mình đã hết khi tôi nghe chuyện này. Vì thế, ngày Chủ nhật tiếp theo tôi không tới và đúng như dự đoán, cảnh sát đã bao vây ở đó. Tuy nhiên, tôi vẫn xoay xở xuất bản thêm được sáu hay tám số, cũng như tránh bị bắt thêm lần nữa.

Ở đây, Noyce đề cập tới lần bị bắt đầu tiên vào Tháng Mười một năm 1969 vì tội “bán “văn hóa phẩm đồi trụy” (một bản Ubu News số 12) ở một ga tàu trong nội thành như ghi chép của Mudie. Tuy nhiên, theo lời Noyce, nó xảy ra bên ngoài một phòng khiêu vũ ở ngoại thành.

Ông đã bị kết tội và được tha vì cư xử tốt mà không bị ghi vào sổ tiền án.

Trong khoảng thời gian chưa làm gì tôi tới chỗ vài người bạn và nói rằng nếu họ đầu tư vào phim của tôi thì họ sẽ có một vai trong đó. Thật không may, gã bạn có bố là một bác sĩ giàu có – lại là diễn viên dở tệ nhất mà người ta từng đặt trước máy quay. Nhưng hắn đã đầu tư 400 đô-la, và vì thế tôi phải cho hắn làm diễn viên chính. Lạ là, hắn có tên là David Frost, nhưng chẳng có liên quan gì tới David Frost, phóng viên phỏng vấn kiêm dẫn chương trình người Anh. Tên của bộ phim là Better to Reign in Hell (Thà làm vua địa ngục), được lấy ra từ Paradise Lost (Thà làm vua địa ngục còn hơn làm đầy tớ chốn thiên đàng). Về cơ bản, bộ phim là câu chuyện của một anh chàng bị ám ảnh bởi cô gái mà anh ta thấy đi thấy lại trong các quảng cáo và trong những giấc mơ hoang đường của anh về cô ta, thứ mà có thể hoặc không thể hình dung lại được. Đó là một bộ phim lấy cảm hứng chủ yếu từ kỹ thuật hình ảnh, dàn dựng và tự sự trong những bộ phim ngầm mà tôi đã xem ở các buổi chiếu của Ubu.

Tôi đã quyết định rằng tôi không thể kiêm quay phim vì tôi không biết cách sử dụng máy quay. (Về sau tôi nhận thấy chẳng có gì phức tạp lắm để điều khiển máy quay và tráng phim) Tôi thuê David Perry, người đã chụp ảnh cho nhiều bộ phim của Albie Thoms làm người quay phim của mình và trả cho anh ta 25 đô-la một ngày cho ba ngày quay. Tôi cũng thuê Clemency Weight, người đã xuất hiện trong phim của Albie Thoms, để đóng vai người phụ nữ ám ảnh nhân vật chính và để cô ta khỏa thân chạy dọc bờ biển.

Bộ phim đó tốn khoảng 600 đô-la và được quay bằng phim 16 li đen trắng.


 
Leave a comment

Posted by on 05/05/2011 in Directors, People

 

Tags: ,

Dũng Khùng vs. Đãng Trọc – Phép so sánh của người ngoài “ghen tị”

Làng điện ảnh Việt Nam có một đôi bạn luôn sát cánh bên nhau từ ngày đầu vào nghề. Kẻ cao người thấp, kẻ béo người gầy, người ưa công nghệ, người thích dân dã, điểm yếu của người này lại là điểm mạnh bổ sung cho người kia. Cặp đạo diễn bài trùng này cũng thường xuất hiện trong hầu hết các bộ phim của mình lẫn của đối phương với vai trò… không phải là đạo diễn. Vậy hãy thử cùng 2! Đẹp làm một phép so sánh thô sơ hai “quái nhân” này dưới lăng kính của một người ngoài “ghen tị” cũng làm nghề điện ảnh…

Giống!

Nguyễn Quang Dũng và Vũ Ngọc Đãng là đôi bạn học Lớp đạo diễn điện ảnh khóa I (Trường Cao Đẳng SKĐA TP.HCM, niên khoá 1996 – 1999), đồng môn của khá nhiều tên tuổi khác của làng điện ảnh phía Nam như Huỳnh Phúc Điền, Hồng Ngân, Song Chi… Cùng một lò đào tạo, Đãng tốt nghiệp thủ khoa và ghi dấu ấn vào nghề với một loạt phim về chuột (thế nên anh có biệt danh Đãng chuột cùng nickname chuchuotsaigon); Dũng thì là học viên trẻ nhất và cũng lắm chiêu nhất luôn hứa hẹn dành cho bạn bè những điều bất ngờ.

Cả hai đều vào nghề một cách khá hài hước. Vũ Ngọc Đãng thì nói anh chọn điện ảnh chứ không phải sân khấu để thi bởi điện ảnh có tận 400 người thi còn sân khấu thì chỉ có 200, đằng nào cũng rớt nên chọn chỗ đông người để có gì về sau… đỡ ngượng. Nguyễn Quang Dũng thì kể về thời học cấp III với mức học trung bình, điểm văn hiếm khi vượt qua 5, cố đi thi chỉ vì trót nói với ba rằng, “Ba viết kịch bản, con làm phim.” Ai dè cả hai đều đỗ! Tưng tửng thế thôi mà cả hai đều học rất giỏi, có quá trình vào nghề khá suôn sẻ từ đợt làm phim truyền hình một tập cho hãng TFS. Đãng đặc biệt thành công với Chuột, còn Dũng hoàn thành lời hứa với bố qua bộ phim Con gà trống.

05 (4)

Khi bắt tay vào sản xuất phim thương mại, cả hai người đều có khả năng “bắt vía” được các nhà sản xuất. Từ những bộ phim đầu tiên như Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Những cô gái chân dài…, cả hai chàng đạo diễn trẻ đều mạnh dạn thay đổi từ khâu viết kịch bản, thiết kế bối cảnh, làm nhạc phim. Dù không phải thể nghiệm nào của họ cũng thực sự thành công nhưng tất cả những nỗ lực ấy đều đáng ghi nhận. Bởi trước hết, họ đã có đủ bản lĩnh để thuyết phục các nhà sản xuất cho thực hiện những điều họ mong muốn, ấp ủ. Cả hai đều cố gắng tạo ra những nét đổi mới so với thế hệ đàn anh đi trước để khiến cho phim của mình mạch lạc, dễ hiểu, đại chúng và (lẽ dĩ nhiên) ăn khách hơn. Họ tiếp thu các yếu tố ngoại quốc nhanh chóng và nhuần nhuyễn. Với Nguyễn Quang Dũng, anh thừa hưởng khá nhiều đặc điểm của dòng phim thương mại Mỹ, trong khi cả phim nhựa lẫn phim truyền hình của Đãng Trọc đều mang hơi hướng của những chuyện tình đẹp kiểu Hàn Quốc.

Cả hai đều có cách khiến cho phim của mình nổi bật giữa thị trường điện ảnh nước nhà vốn ảm đạm bấy lâu ngay cả khi phim còn chưa ra mắt. Họ rất giỏi trong việc mời những tên tuổi nổi tiếng trong ngành giải trí tham gia phim của mình cho thêm phần xôm xụ như danh hài Hoài Linh, ca sỹ Phương Thanh, Siu Black, Hồng Nhung, Lam Trường, nhiếp ảnh gia Hải Đông… Họ đều rất “mát tay” trong việc đưa những ngôi sao tầm tầm trong làng điện ảnh lên hàng nổi bật. Thực tế là những Minh Hằng, Thanh Hằng, Anh Thư, Lương Mạnh Hải hay Tăng Thanh Hà khó lòng có thể đình đám như ngày hôm nay nếu như chưa từng tham gia trong những bộ phim của hai vị đạo diễn này.

Họ cũng chuyên trị kiêm nhiệm cả hai khâu viết kịch bản và đạo diễn; riêng với anh chàng “lắm chiêu” Nguyễn Quang Dũng thì còn kiêm luôn cả việc viết những ca khúc nhạc phim nồng nàn trẻ trung. Chính bởi vậy mà cả hai muốn làm gì, thay đổi gì trong quá trình làm phim cũng khá dễ. Họ chủ động “đo ni đóng giày” cho các diễn viên trẻ đẹp nổi tiếng sẵn có trong từng chi tiết kịch bản. Đây cũng là hai đạo diễn biết cách tận dụng thế mạnh của vai trò DOP (giám đốc hình ảnh) bên cạnh vị trí quay phim. Những hình ảnh đẹp long lanh trong phim của họ là kết quả hợp tác thành công với cặp bài trùng Nguyễn Tranh – Nguyễn Nam. Tính ổn định trong các ê-kíp làm phim của hai người khiến bất cứ đạo diễn nào tại Việt Nam cũng phải thèm muốn.

Và khác…

Tuy giống nhau nhiều là vậy, ngoài khác biệt về vẻ ngoài mà ai cũng dễ nhận thấy, giữa Dũng và Đãng cũng xuất hiện khá nhiều điểm khác biệt trong phong cách làm phim.

NhungNuHonRucRo 122

Nguyễn Quang Dũng xuất thân từ một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Việc anh chọn theo đuổi một ngành nghệ thuật nào đó là điều dễ hiểu. Khi anh chọn ngành điện ảnh, tức là đã chọn một ngành tổng hợp lại tất cả các ngành nghệ thuật khác. Từ những ấn tượng khi còn là một cậu bé tiếp xúc với bạn bè văn nghệ của người cha nổi tiếng Nguyễn Quang Sáng, Dũng Khùng đã thẩm thấu, hòa trộn tất cả nhửng hồi ức tuyệt vời đó trong các tác phẩm đầu tay. Phim của anh luôn tận dụng ưu điểm của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như âm nhạc, khiêu vũ, sân khấu, hội họa… để tạo nên sự hấp dẫn ngay từ câu chuyện phim. Đây cũng là nền tảng để anh bắt tay viết kịch bản và đạo diễn cho bộ phim ca nhạc đầu tiên của điện ảnh thương mại Việt Nam, Những nụ hôn rực rỡ. Vũ Ngọc Đãng thì ngược lại, anh xuất thân trong một gia đình nông dân đặc trưng không có ai làm nghệ thuật. Rời Tây Ninh lên Sài Gòn, Vũ Ngọc Đãng đã bươn chải kiếm sống bằng khá nhiều nghề khác nhau, trong đó phải kể đến nghề nhiếp ảnh. Bạn bè trường Sân khấu thường truyền tụng về phong cách chụp ảnh không-giống-ai của Vũ Ngọc Đãng: không dùng flash, không lạm dụng kỹ thuật chỉnh sửa mà cứ bấm máy cho thật chắc tay. Cũng với sự mộc mạc ấy, Đãng Trọc tuyên bố một triết lý làm phim đơn giản tới dễ thương, “Làm phim cho ba má ở dưới quê tự hào.” Và anh đã thực hiện đúng với  tôn chỉ đó. Phim của Vũ Ngọc Đãng nội dung đơn giản nhưng có cách khai thác chi tiết rất tốt. Tuy người trẻ đôi khi xem phim của anh sốt ruột, nhưng người già và trẻ nhỏ lại vô cùng hào hứng, thích thú. Đó là những câu chuyện có màu sắc cổ tích, nhẹ nhàng, hài hước với những kết thúc có hậu và để lại dư vị ngọt ngào cho người xem.

Nếu ai đã có dịp tiếp xúc trực tiếp với đôi bạn thân này hẳn cũng có thể nhận thấy những tính cách đặc trưng của hai người đã có ảnh hưởng tới phim của họ tới như thế nào. Trong khi Nguyễn Quang Dũng khá lém lỉnh, không nói nhiều nhưng “nói câu nào thì chết câu đấy” thì Vũ Ngọc Đãng lại nói nhiều, nói nhanh như “dập máy khâu” đến mức đôi khi người nghe phải hoa mắt, chóng mặt. Chính vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi thoại trong phim Nguyễn Quang Dũng luôn trẻ trung, hài hước còn thoại trong Vũ Ngọc Đãng luôn nhiều hơn mức bình thường, thậm chí đến mức bội thực như bộ phim chiếu Tết Đẹp từng centimet vừa qua.

05 (6)

Nói một cách nào đó, “người làm sao, phim hao hao như vậy”. Dũng Khùng mang vào trong phim đặc điểm của một người thành thị trẻ với sự láu lỉnh và khả năng tận dụng các công nghệ làm phim mới nhất để tạo nên hiệu quả cao nhất. Còn Đãng Trọc thì là một người kể chuyện giỏi, khai thác nhân vật với giọng kể bình dị và dễ hiểu. Nhân vật trong phim Đãng thật và đời đến nỗi nhiều khi có cảm giác anh ngồi đó quan sát bạn bè mình, những người diễn viên mà mình yêu quý thật kỹ càng rồi miêu tả lại tất cả những chi tiết thường nhật của họ bằng ngòi bút của mình. Có một điều thú vị là Vũ Ngọc Đãng không bao giờ đánh máy mà luôn tự viết tay tất cả các kịch bản của mình – một điều có thể coi là khá lạ lùng đối với một đạo diễn trẻ có vẻ ngoài khá hi-tech này.

“Lật tẩy” đôi bạn thân của điện ảnh Việt Nam!

Chính bản thân Vũ Ngọc Đãng đã có lần thừa nhận rằng, “Dũng thích chuyện phi lý, siêu thực; còn tôi ưa hiện thực, ít chi tiết và hướng đến sự lãng mạn…” Thực ra họ làm phim ban đầu cốt là để cho mình, nhưng ý thích đó của họ lại có mẫu số chung với đông đảo khán giả và được người ta chấp nhận. Nếu Nguyễn Quang Dũng theo đuổi dạng phim kết hợp các yếu tố: tâm lý, tình cảm, hành động, hài hước, kỹ xảo hiện đại trong một câu chuyện có yếu tố siêu nhiên, kỳ bí, phức tạp… thì Vũ Ngọc Đãng không ngại sáng tạo những giấc mơ muôn màu, thậm chí phi lý như Tuyết nhiệt đới, Bỗng dưng muốn khóc. Vì thế, các phim điện ảnh của Dũng Khùng đều thắng lớn về doanh thu; trong khi về phương diện giải trí, Vũ Ngọc Đãng được các nhà sản xuất đánh giá rất cao bởi những tác phẩm truyền hình của anh đều khiến già trẻ lớn bé thích mê. Nói một cách khác, Đãng Trọc như một cậu bé nông dân mang ước mơ điện ảnh đến với mọi người còn Dũng Khùng như một chàng trai thành phố lém lỉnh, giỏi tung hứng niềm vui thích làm phim của mình tới với người khác.

Sự tiếp cận truyền thông của họ cũng có những nét thú vị. Nguyễn Quang Dũng trước còn mặn mà với việc cung cấp thông tin cho cánh phóng viên, nhưng giờ anh có vẻ thích viết báo và trải lòng trên blog hơn. Trên blog, Dũng Khùng vui vẻ kể chuyện làm phim, đăng tuyển diễn viên, “trưng cầu dân ý” về kịch bản. Dường như đối với anh, blog là một diễn đàn báo chí mà anh có thể làm chủ, thu hút những người hâm mộ và khéo léo đáp trả những gì không vừa ý. Trong giới, Dũng luôn được đánh giá cao về cách cư xử ít mếch lòng ai, không chê ai bao giờ và càng không tiếc lời khen ngợi với những người cùng hợp tác. Còn Đãng Trọc có vẻ khó tính hơn! Anh nói thẳng không thích tiếp xúc với các nhà báo lắm, phải thế nào đó anh mới vui vẻ tiếp chuyện. Nhưng khi hợp thì anh sẽ nói say sưa về những điều mình theo đuổi, ước mơ. Một điều dễ nhận thấy là cả hai đang chọn người mà khen, một chiến dịch khéo léo và một kiểu chảnh có chọn lọc khiến những ai may mắn được các anh thân thiện sẽ hạnh phúc ngất ngây!

3O0X0708

Khác với Đãng Trọc, Dũng Khùng không chịu làm phim truyền hình. Hơn ai hết, anh hiểu những bước đi của mình khi làm phim nhựa đều đã và đang rất chuẩn xác. Tất cả các phim nhựa của anh đều là những bom tấn Việt, phim sau được đánh giá tốt hơn phim trước. Anh cũng luôn có cách đáp trả những bài phê bình phim ác ý bằng việc trở thành một nhà báo văn hóa hài hước với bút danh Duku. Hơn nữa, khi đã “bắt vía” được nhà sản xuất rồi thì không tội gì không tiếp tục những ý tưởng “là lạ” của mình. Dũng đi nhiều hơn, mở rộng quan hệ và có mặt trong rất nhiều các chương trình giải trí. Vừa thấy anh sang Mỹ nói chuyện với một nhà sản xuất lại thấy làm ban giám khảo cho một cuộc thi nhảy múa ca hát của các bạn trẻ, đang đứng tên ở kịch bản này rồi lại cung cấp ý tưởng cho một loạt các talkshow khác. Năm nay, phim Tết Việt Nam sẽ có hai sản phẩm mang đậm phong cách Dũng KhùngNhật ký Bạch Tuyết với vai trò ý tưởng kịch bản và Những nụ hôn rực rỡ ở vai trò kịch bản kiêm đạo diễn. Còn Vũ Ngọc Đãng thì vẫn “mải miết” thể hiện thế mạnh của mình ở mảng truyền hình bằng phiên bản Việt của bộ phim truyền hình Ngôi nhà hạnh phúc với dàn sao long lanh do cả anh lẫn người bạn thân cùng phát hiện đào tạo.

Dù thế nào thì cũng phải thừa nhận một điểm rằng phim của Đãng Trọc hay Dũng Khùng đều đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của giới khán giả Việt Nam vô tư và tràn đầy háo hức với những bộ phim về giới trẻ: dàn diễn viên nổi tiếng, diễn viên chính ngoại hình đẹp, chất lượng âm thanh và hình ảnh đảm bảo, âm nhạc chuyên nghiệp và tạo nên được những kỷ lục đáng mơ ước. Đẹp từng centimet của Đãng Trọc dẫu bị giới phê bình đánh cho tơi tả đến thế vẫn là một phim hốt bạc ác liệt trong dịp Tết Kỷ Sửu còn thương hiệu Dũng Khùng giờ đây đã đồng nghĩa với hai chữ thành công. Cả hai đều đã trở thành những nhân vật không thể thiếu của điện ảnh Việt!

Không sùng bái điện ảnh đến mức cực đoan mà thẳng thắn coi đây như một nghề để cố gắng phục vụ công chúng, cả Vũ Ngọc Đãng lẫn Nguyễn Quang Dũng đều đã và đang mang đến cho người xem những sản phẩm giải trí đầy lý thú. Và chúng ta, hãy tiếp tục thử chờ xem họ sẽ tung ra những “chiêu” gì mới trong khoảng thời gian cuối năm đầy sôi động này…

Bài viết trên tạp chí 2! Đẹp, số tháng 11/2009

 
8 Comments

Posted by on 24/10/2009 in Directors, People

 
 
%d bloggers like this: